Wednesday, November 2, 2011

Cự ly đến khám phá đất biển Bình Đại

Bình Đại là một trong ba huyện ven biển của Bến Tre, so với các huyện khác trong tỉnh Bình Đại nằm lẻ loi trên một dãy cù lao và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Về du lịch, Bình Đại chưa có nhiều điểm đến như các huyện khác của Bến Tre.
- Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Bình Đại 51 km đường bộ.
  • Trên đường đi đến trung tâm huyện Bình Đại, dừng chân tại xã Châu Hưng, khoảng 32 km đường bộ tham quan di tích lịch sử Đình Tân Hưng và đền thờ Huỳnh Tấn Phát (xe dưới 16 chỗ vào được đến nơi). Xe 30 – 50 chỗ đậu gần UBND xã Châu Hưng (nằm trên tỉnh tỉnh lộ 883) và đi bộ theo hướng phải khoảng 02 km là đến nơi.
  • Công trình “Cống đập Ba Lai” tại xã Thạnh Trị và một phần của xã Bình Thới, là một hạng mục trong hệ thống thuỷ lợi, có các công trình lớn đồng bộ, khép kín các công trình đê - cống ven sông Cửa Đại, sông Hàm Luông. Từ thành phố Bến Tre đến công trình này tại xã Thạnh Trị khoảng 59 km đường bộ và từ trung tâm huyện Bình Đại đến đây khoảng 08 km. Nếu đi bằng đường bộ từ xã Tân Xuân, huyện Ba Tri sang thì rất thuận tiện. Xe 30 – 50 chỗ đến được nơi đây.
  • Tham quan mô hình nuôi cá xấu, cá lóc bông, heo rừng, vườn cây ăn trái trồng xen cây cảnh ven sông Ba Lai tại xã Thạnh Trị, khoảng 60 km đường bộ (nằm cách công trình cống đập Ba Lai khoảng 01 km). Xe 30 chỗ đến được tại điểm này.
  • Lễ hội nghinh Ông (16/6 âl) hàng năm tại xã Bình Thắng và cảng cá Bình Đại khoảng 51 km đường bộ;
  • Khám phá biển Thừa Đức và thưởng thức các món ăn đặc sản biển như: Cá, mực, tôm, cua, nghêu, sò... và độc đáo là món bánh xèo xứ biển (khoảng 67 km đường bộ). Xe 30 chỗ đến được bãi biển này.
Công trình cống đập Ba Lai
Mô hình nuôi cá lóc bông

Tuesday, November 1, 2011

Ai lên Vĩnh Bình ăn Bánh xèo Phú Đa

Bánh xèo là món ăn dân dã, nhưng đòi hỏi không ít công phu và độ khéo tay của người làm bánh. Muốn ngon, ăn bánh xèo phải cầu kỳ. Ăn không chỉ để no, mà đó còn là một nghệ thuật. Nên có nhiều người làm, mà nổi tiếng chẳng có mấy ai là vậy. Đến nhà chị Nguyễn Kim Dung, vợ của anh Ba Ngói, Phó chủ nhiệm hợp tác xã ốc gạo Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách (Bến Tre) sẽ thấy nhiều điều thú vị về làm và ăn bánh xèo. 

Bánh xèo làm từ bột gạo. Bánh xèo ngon trước hết là nhờ bột. Bột phải đủ các hương vị lẫn màu sắc: Độ béo của dừa, độ ngọt của đường, một tí mặn của muối, mùi thơm của hành và màu vàng của nghệ. Ngày xưa, nhà muốn ăn bánh xèo thì trước đó phải ngâm gạo, mang đi xay thành bột nhuyễn, rồi mới pha chế. Ngày nay tiến bộ hơn, làm bánh xèo có bột pha sẵn bán ở tiệm. Sở dĩ  khách ăn bánh xèo “nhớ đời” một số nơi, là do các bà nội trợ ở đây biết pha chế, gia giảm trong bột những hương vị trên. Và, riêng chị Dung thì “có thêm bột đậu xanh” để làm tăng thêm độ béo và giữ được màu vàng của bánh.
 
Nhân bánh là phần không thể thiếu và góp phần làm cho cái bánh ngon. Phổ biến là con tép bạc non vừa mềm lại vừa ngọt, cộng thêm một nhúm giá là đủ. Vào đầu mùa mưa, nhất là mồng 5 tháng 5 âm lịch, những nơi có nấm mối bỏ thêm vào là rất tuyệt. Có người không có giá, mà thay bằng măng tre hoặc tàu hủ dừa, thì bảo đảm không có người chê. Riêng chị Dung, nhân bánh xèo chỉ có 2 thành phần chính là giá và ruột hến. Vậy mà khách ăn rồi vẫn khó quên.
 
Từ xưa đến giờ, không ai làm bánh xèo ăn mà không có rau. Rau ăn bánh xèo đủ các vị chua, chát, đắng, cay, nồng của “hương đồng cỏ nội”, mà người dân quê gọi là rau vườn như lá cách, lá lụa, lá kèo nèo, đọt xạn, lá non lụt bình, đọt xoài, đọt điều, cải bẹ xanh non, rau vừng, rau chiết, lá cát lồi, các loại rau thơm, … đủ thứ, mùa nào rau đó. Nhưng đặc biệt rau ở nhà chị Dung rất tươi và sạch.
 
Nước mắm ăn bánh xèo không “đủ đô” cũng làm cho bánh xèo không ngon. Cũng với vị chua của chanh, ngọt của đường, mặn của nước mắm, cay của ớt, nồng của tỏi, ai cũng biết, nhưng không phải ai cũng pha chế cho vừa khẩu vị người ăn, chứ đừng nói đến “để đời”. Cái khác ở chị Dung là pha bằng nước dừa, nên nước chấm “đậm đà”, đặc biệt là mấy miếng ớt băm nhuyễn nổi lên, làm cho chén nước mắm càng tăng thêm vẻ đẹp.  
Bánh xèo ngon không chỉ có bột, rau và nước chấm, mà còn là hình thức bánh, phong cách ăn bánh và thái độ của người làm với người ăn. Cách đổ bánh xèo cho giòn cũng là một nghệ thuật. Chỉ làm cho có được độ mỏng của bánh, khách sẽ không khỏi “say đắm” đôi tay uyển chuyển của người thao tác cầm muỗng đổ bột và xoay nhẹ chảo cho bánh tròn và đều. Cho nên, ăn bánh xèo phải ăn lúc còn nóng.

Ăn bánh xèo có đặc điểm là phải bốc (bằng tay). Ăn bốc mới ngon và đặc biệt phải “rất tự nhiên”. Tính chất dân dã của bánh xèo chính là ở chỗ này, không khách sáo nhưng không kém phần nghiêm túc, trân trọng, ăn cả tấm lòng, chứ không thể “ăn vị tình”, “ăn cho được lòng” thì không ngon.. Nhìn mấy ông khách nước ngoài ăn bánh xèo không khác gì người Việt - cũng bốc hốt mà ăn ào ào. Đấy là một minh chứng không chỉ thích bánh xèo vì chất lượng, mà còn vì cách ăn. Ăn bánh xèo phải coi tất cả là người “trong nhà”, tự mình thao tác các công đoạn, ăn ngấu, ăn nghiến, ngồi bất kể chỗ nào, miễn sạch là được. Như vậy mới ngon. Ăn bánh xèo rất xa lạ với phong cách ăn phải mời, phải gắp để, phải bỏ áo trong quần, thắt cà vạt, mang giày, “kẻ hầu, người hạ”. Thời điểm ăn bánh xèo cũng góp phần cho buổi ăn ngon. Đến với điểm du lịch của Ba Ngói, khách “chưa được” ăn bánh xèo ngay, mà phải đi một vòng trong vườn để “tham quan” cây ăn trái, hít thở khí trời cho đã sau một thời gian dài ngồi trên xe ngột ngạt, rồi xuống xuồng ra sông xem hoặc tham gia thu hoạch ốc gạo cùng nhân viên của hợp tác xã. Sau đó khách thoải mái về tắm rửa, nghỉ ngơi mới lên bàn ăn. Khách không muốn ngồi trong “chòi” có bàn, có ghế đàng hoàng, thì trải chiếu ra gốc cây ngồi ăn tùy thích. Thú vị chính là chỗ đó.
 
“Chị làm như thế này có lời nhiều không?” – tôi hỏi. “Có chứ, nhưng ít thôi. Chủ yếu là “thử” khả năng mình mà” – chị cười và nói. Khách không ăn bánh xèo còn có gỏi cuốn, cá chiên, gà luộc xé phay, ốc gạo chấm nước mắm sả băm, cơm ăn với cá kho, canh chua. Cũng các món ấy nhưng vẫn có đồ ăn chay thích hợp cho người tu hành. Nhìn vào “cơ ngơi”, chỉ có hai người đang cắm cúi làm việc: chị đổ bánh, còn mẹ chồng là bà Huỳnh Thị Lựu đang ngồi rửa rau. Đã quá 11 giờ trưa, vì bận khách nên cơm chưa chín, chị giật mình quay lại nhìn mẹ mà tay vội lấy một cái bánh xèo đặt vào đĩa: “Mẹ, nghỉ tay ăn cái bánh để lót dạ”. Ai chứng kiến được cảnh này sẽ thấy rõ một thứ tình trong đó.

Ăn một thứ bánh mà hòa quyện được tất cả khí trời và đất, cùng với tình người vào một miếng ăn, thì làm sao không lay động được người cảm nhận? Thiên nhiên đã ban tặng con ốc gạo Phú Đa có một chất lượng “vừa thơm, vừa béo”. Bằng cái bánh dân dã, chỉ một thời gian ngắn, mà con người ở đây cũng không kém phần “vừa khéo lại vừa khôn”, để làm đậm đà thêm “thương hiệu” của mình với khách gần xa. Đó là “Bánh xèo Phú Đa”.

Tác giả: Lê Quang Nhung
(Theo http://www.bentre.gov.vn)

Cùng khám phá "Ốc gạo" cồn Phú Đa

Thiên nhiên ban đã tặng cho vùng đất xứ dừa Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh (sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai, Sông Tiền) và rất nhiều sông, rạch lớn, nhỏ chằn chịt. Chính những dòng sông lớn hiền hòa ấy đã mang nặng phù sa bồi đắp và hình thành trên xứ sở này nhiều vùng đất cồn. Và Bến Tre là một trong những vùng đất có nhiều phù sa màu mỡ và nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Trời đất cũng ban tặng cho nơi đây khí hậu hiền hòa và trong lành. Đây cũng là điều kiện thích hợp cho các sinh vật quý hiếm đến sinh trưởng. Và “ốc gạo” là một trong những loài thủy sản đã đến cư trú và sinh sản ở vùng nước ngọt Bến Tre, đặc biệt là tại cồn Phú Đa, xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách. Có thể xem “ốc gạo” như là một trong những sản vật khá quý hiếm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung hay Bến Tre nói riêng.

Tìm hiểu và nghiên cứu từ tư liệu, ốc gạo là loài sinh vật sống trong môi trường tự nhiên, sinh trưởng ở một số vùng ĐBSCL như: Bến Tre, Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang…. Cũng là ốc gạo, nhưng mỗi nơi ốc gạo có vị khác nhau. Theo nhận xét của nhiều người thì ngon nhất (ngọt, béo, giòn) vẫn là con ốc gạo ở cồn Phú Đa thuộc xã Vĩnh Bình, Chợ Lách, Bến Tre.

Cồn Phú Đa nằm bên dòng sông Cổ Chiên, quanh năm nước ngọt, dòng chảy ổn định, hạt cát mịn màng và trở thành miền đất hứa của con ốc gạo tự bao giờ chẳng ai rõ. Theo lời kể của những người trong nghề thì ốc gạo sống ở đáy sông (ở phần cát sình), cách mặt nước sâu khoảng 06m. Thông thường cứ cách bờ khoảng 20 mét là có ốc gạo, nước chảy xiết thì ốc vùi xuống cát sình, nước lũ lên thì ốc gạo bò lên thậm chí tận cả mé sông. Đặc biệt, mưa nhiều nước đục thì ốc gạo càng mập. Thời gian khai thác ốc gạo ở cồn Phú Đa đông ken nhất là từ tháng 5 - 7 âl. Ốc gạo ở đây có vỏ màu xanh biếc, ruột vàng óng ánh, phần thịt phía trên, thịt ốc gạo lại vừa ngọt, vừa béo, giòn, phần phía dưới hơi đăng đắng, nhưng khi ăn không ai lể bỏ phần này cả, vì chính cái vị đăng đắng ấy là “đặc trưng” làm cho ốc gạo Phú Đa ngon hơn.

Đến mùa bắt ốc gạo, hãy đến với vùng đất này để tận mắt dõi theo từng công đoạn, từng thao tác, mà đối với nghề này có thể nói như một “kỳ công lặn bắt ốc”.  Bắt ốc gạo cũng có cách thức riêng, nếu nghe cái tên hay kiểu, cách bắt ốc dân gian xưa kia gọi thì kỳ thú vô cùng và hình như cách bắt ốc các nơi đều cũng na ná nhau.

Cách bắt ốc gạo dân gian mà từ xưa gọi là “lặn cồng cộc”: Cứ mỗi đôi một xuồng cùng nhau chèo ra sông tìm chỗ giữa hai vồng đất bồi nổi cao, cắm sào neo xuồng lại. Mỗi người hít lấy một hơi dài, lặn sát đáy sông cỡ vài sải sâu, bám lấy vào cây sào đã cắm, một tay dùng “lợi cào” hình cánh cung xốc xuống mặt cát đáy sông. Cứ như vậy, ốc trong cát bị xốc rơi vào lưới phía sau lợi. Lặn chừng mươi hơi, khi đã hết ốc quanh sào, hai người trồi lên, chống xuồng tìm nơi khác để bắt tiếp. Bắt ốc gạo cách này rất cực nhọc, mỗi buổi lặn hàng trăm hơi, da thịt ngấm nước mềm nhão, thỉnh thoảng bị con ốc hở môi trên cắt vào tay ngọt xớt như dao lam cứa phải. Có lẽ do lặn hụp dưới nước hoài như con cồng cộc bắt cá dưới sông, nên người ta ví cách lặn này có cái tên như vậy.

Hay dân gian còn có cách “lặn điên điển”: Thường là những người đàn bà đơn chiếc, không có người lặn đôi. Họ tìm chỗ cắm sào, neo xuồng, rồi buộc dây ngang lưng, đeo vào cổ chiếc giỏ tre, quay mặt về hướng ngược nước, hai tay đập như con điên điển. Sau đó, lấy sức lặn sát đáy sông, tranh thủ dùng hai tay quơ quào hốt ốc bỏ vào giỏ, vừa hết hơi trồi lên mặt nước, trút giỏ ốc vô xuồng rồi lặn tiếp.

Hai cách lặn dân gian trên, là những cách bắt ốc có từ thời xưa. Bây giờ người ta sáng tạo bắt ốc hiện đại hơn, bài bản và với quy mô lớn như: Họ dùng ghe gắn máy mạnh, dùng cào lớn, răng đinh, rọ dài rà sát đáy sông. Sử dụng “tời” kéo cào lên, đổ ốc vào khoang, quay ghe cào luồng khác. Tuy cách đánh bắt này không làm cạn kiệt dần nguồn ốc gạo thiên nhiên, song ít nhiều cũng có ảnh hưởng, tổn thương đến ốc gạo như: Cào răng đinh vét cả ốc nái, đâm nát vỏ ốc non, bất chấp thời kỳ ốc sinh sản…, nên ngày nay vẫn còn  rất nhiều người sử dụng phương pháp đánh bắt dân gian.
Từ những con ốc gạo được khai thác, qua bàn tay khéo léo của các bà, các chị xứ cồn, đã tạo ra phong phú các món ăn từ ốc gạo, nhưng rất đỗi mộc mạc, vô cùng ngon, hấp dẫn và thú vị. Cách chế biến món ăn từ ốc gạo rất đơn giản, tuy nhiên muốn có được ốc gạo ngon, thì cũng phải kỳ công như: Khi mua về phải ngâm rửa ốc gạo cho sạch cát, việc này đòi hỏi phải có thời gian, ngâm lâu thì ốc sẽ càng sạch. Theo cách dân gian thì khi muốn rửa ốc gạo nhanh, sạch nhớt thì bằng cách giã trái ớt cho vào nước ngâm hay dùng nước vo gạo ngâm thì ốc sẽ sạch hơn. Nhưng theo kinh nghiệm của giới chế biến và sành ăn, ngon nhất, sạch nhất, trong ốc không còn cát, thì phải dùng 01 thau nước sạch, 01 cái rổ để ốc vào ngâm vào trong thau nước, để đáy rổ không chạm vào đáy thau (cách khoảng 05 cm), để ốc nhả hết cát ra, cát sẽ rớt xuống đáy thau, ốc không ngậm lại được. Thời gian ngâm để ốc nhả cát ra tốt nhất từ 03 giờ đồng hồ đến nửa ngày hay qua đêm càng tốt.

Phải công nhận rằng, ốc gạo đã sạch rồi thì vô tư chế biến các món ăn và tự tin dùng thỏa thích. Thông thường thì ốc gạo được chế biến rất đơn giản, dễ làm, ăn ngon, hấp dẫn:

* Ốc gạo luộc:
Luộc là một trong những cách đơn giản nhất và dễ chế biến nhất. Khi sử dụng món này thì chúng ta mới thấm hết đầy đủ vị ngon, ngọt, giòn, béo mà con ốc gạo mang lại. Đối với món này khi luộc để thêm tí gừng hay lá xả thì thơm, ngon, hấp dẫn vô cùng. Chấm ốc gạo luộc với nước mắm xả ớt hay muối tiêu chanh hoặc nước chấm chế biến từ cơm mẻ rất ngon và độc đáo. Để thêm phần làm cho hương vị món ăn được đậm đà hơn, có người khi chế biến món ốc gạo luộc còn rưới mỡ hành lên để làm món ốc gạo đậm đà và béo hơn.

* Cháo ốc gạo:
Sau khi lể ốc ra khỏi vỏ (lể ốc gạo còn tươi hay đã luộc rồi cũng được). Bắt sẵn nồi cháo trắng, đến khi cháo nhừ thì chỉ việc cho ốc gạo vào, thêm vài lát gừng xắt sợi nêm cho vừa khẩu vị là có thể ăn ngay. Món này chế biến không cầu kỳ nên rất được ưa chuộng và ăn kèm với rau sống, giá, hẹ, bắp chuối sắt… rất hấp dẫn.

* Ốc gạo xào nước cốt dừa:
Món này không khó làm, dễ ăn, có vị béo thơm từ nước cốt dừa kết hợp với vị béo của ốc gạo, sẽ thích thú hơn. Để món ăn này ít ngán, khi chế biến cho thêm xả, ớt vào sẽ làm cho người ăn không thấy ngán. Đối với món ốc gạo xào nước cốt dừa này cách ăn phải dân dã, phải dùng tay bóc ăn mới thú vị, bởi vì vừa chấm vừa mút phần nước cốt bám từ vỏ ốc thì mới cảm nhận đủ hết hương vị từ món ăn này mang lại. Cách ăn này có lẻ nhiều người cho là không hợp vệ sinh, nhưng lại được nhiều người thích.

* Bánh xèo ốc gạo:
Đây là món ăn mà hình như du khách nào đến cồn Phú Đa cũng không thể bỏ qua, bởi gì nhân của bánh xèo là con ốc gạo, nhân bánh này còn có thêm củ hũ dừa bổ sung vào, nên bánh xèo ở đây vừa béo, thơm từ chất liệu dừa, vừa béo từ thịt ốc gạo, vừa ngọt từ củ hủ dừa, nên ăn rất tuyệt. Bánh xèo ở đây ăn với các loại rau thơm, các loại rau vườn và chấm nước mắm tỏi, ớt, được pha chế vừa miệng. Bánh xèo thì ai cũng biết đến, dễ làm, lúc nào chế biến cũng được, nhưng bánh xèo nhân ốc gạo thì không phải lúc nào cũng có, chỉ đến mùa thu hoạch ốc gạo thì mới có món bánh xèo nhân ốc gạo. Món khoái khẩu bánh xèo ở cồn Phú Đa sẽ làm du khách luôn nhớ hoài.

* Ốc gạo cuốn bánh tráng với dừa nạo chấm tương:
Việc chuẩn bị món ăn này cũng khá đơn giản. Đầu tiên, luộc ốc cho chín, sau đó lể ruột ốc ra dĩa. Món này không thể thiếu các loại rau vườn như: rau thơm, rau răm, khế, chuối chát, đọt choại, đọt cóc… rửa sạch để ăn kèm, đặc biệt bún, bánh tráng và dừa nạo là không thể nào thiếu được. Khi ăn, dùng bánh tráng nem mềm, đặt lên đó các loại rau, bún, ốc và dừa nạo, cuộn tròn lại…, rồi chấm nước mắm chua có cà rốt và củ cải trắng sắt sợi nhuyễn, hay nước nắm pha sả, ớt vào hoặc tương hột xay nhuyễn, pha chế vừa ăn. Vị bùi, béo, ngọt của ốc, vị béo của dừa nạo, mùi thơm của các loại rau, vị chua của khế, vị chát của chuối… hòa cùng hương thơm của nước chấm sẽ làm nên một món gỏi cuốn ốc gạo độc đáo, lạ và ngon vô cùng.

* Gỏi ốc gạo trộn bắp chuối và lá gừng:
Sau khi luộc chín ốc gạo, lể ốc bỏ vỏ, hành tây, ớt, lá gừng, cắt sợi trộn với bắp chuối và ốc. Pha nước mắm với chanh, đường, tỏi, ớt. Rưới hỗn hợp lên gỏi, cho rau thơm sắt nhuyễn vào rồi trộn đều. Cho đậu phộng rang, hành phi lên mặt. Gỏi ốc gạo lá gừng ăn với bánh tráng mè, có thể chấm thêm với nước mắm chua ngọt, thì ngon tuyệt.



* Gỏi óc gạo trộn với bưởi và cơm dừa:
Luộc ốc cho chín, lể ra, trộn thêm chút tiêu, đường, hành rồi bắc chảo lên xào sơ qua. Sau đó trộn ốc vào với ruột bưởi, dừa nạo, rồi dùng nước mắm pha thêm chút đường, tỏi, ớt rưới đều lên. Sau cùng rắc thêm rau thơm, hành phi là có thể dùng được. Chính hương vị đặc trưng của ốc, vị chua của bưởi, vị béo của dừa hòa quyện vào nhau, tạo thành một món ngon khó tả. Muốn ngon hơn nữa chúng ta có thể cuốn gỏi với bánh tráng nem, chấm nước mắm cay. Nếu không dùng ốc gạo làm gỏi, thì ta cũng có thể dùng ốc đắng cũng rất ngon.

Ngày nay, ốc gạo cồn Phú Đa không còn thu mình trên vùng đất Vĩnh Bình, Chợ Lách, Bến Tre nữa mà đã được nhiều người biết đến nó như một sản vật thiên nhiên khá quý hiếm. Từ con ốc gạo miệt vườn của một số vùng sông nước ĐBSCL được chế biến ra nhiều món ăn dân dã ở vùng nông thôn, nay ốc gạo đã được người ta quan tâm đưa nó đến các nhà hàng, quán ăn lớn tại các tỉnh, thành. Và từ con ốc gạo đã làm ra những món ăn sang trọng, độc đáo hơn như: món ốc gạo chấy mỡ tỏi, lẩu mắm ốc gạo, ốc gạo um nước dừa, ốc gạo rang bơ, ốc gạo tiềm thuốc bắc ...

Wednesday, October 19, 2011

Khoảng cách các điểm tham quan tại thành phố Bến Tre

 Bến Tre được hình thành trên ba dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thành phố Bến Tre nằm trên phần đất cù lao Bảo và bên bờ sông cùng tên “Bến Tre”. Từ xưa hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đặc biệt thuận lợi. Về giao thông bộ hiện nay từ Bến Tre đi thành phố Hồ Chí Minh 86 km và chỉ mất gần 02 giờ đồng hồ. Về đường thủy từ thành phố Bến Tre tàu thuyền có thể đi thẳng một mạch đến thành phố Hồ Chí Minh, sang Mỹ Tho, Cần Thơ hoặc đến các trung tâm kinh tế khác ở các tỉnh Đồng đồng bằng sông Cửu Long, và có thể ngược dòng sông Cửu Long đến tận Phnôm Pênh, thủ đô của nước Campuchia.

Hiện nay, hàng ngày các tuyến xe buýt từ thành phố Bến Tre đến các huyện: Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Thạnh Phú, Chợ Lách  và trung tâm một số xã và ngược lại, mỗi chuyến xe buýt chỉ cách nhau 20 phút.

- Tính điểm xuất phát từ công viên “Tượng đài Đồng Khởi” đến các điểm tham quan tại thành phố Bến Tre như sau:
  • Công viên “Tượng đài Đồng Khởi” (tọa lạc trong công viên Ngã Ba Tháp thường hay gọi trước đây), đoạn phường 4, nằm chính giữa hai con đường một chiều (một bên là đường Trần Quốc Tuấn, một bên là đường 30/4), hết đoạn đường công viên tượng đài Đồng Khởi, là nhập vào Đại lộ Đồng Khởi, con đường chính dẫn vào trung tâm thành phố Bến Tre. 
  • Đến công viên “Tượng đài Trần Văn Ơn” và hồ Trúc Giang, khoảng 400 m,  nằm trên đường Trần Quốc Tuấn và giữa hai con đường: một bên Hai Bà Trưng, một bên là đường Lê Quý Đôn, phường 2.
  • Đến Bảo tàng Bến Tre, số 146, đường Hùng Vương, phường 3, khoảng 900 m.
  • Công viên “Tượng đài Chiến thắng trên sông”, công viên Hùng Vương hay còn gọi là công viên “Hoàng Lam” hoặc tượng đài “Cởi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”, khoảng 1.300m, nằm trên đường Hùng Vương, cũng là công viên Hùng Vương, con đường này nối dài từ địa phận phường 1, 2, 3, 5, 7 và tận Bến phà Hàm Luông cũ.
  • Cầu Bến Tre 2,  nằm trên đường Hùng Vương (đoạn phường 7), từ công viên Tượng đài Đồng Khởi đến đây khoảng 1.500 m.
  • Các điểm du lịch sinh thái – miệt vườn vùng ven thành phố Bến Tre (qua cầu Bến Tre 2) ở các xã: xã Mỹ Thạnh An, đi đường bộ 03 km; Phú Nhuận (04 km), Nhơn Thạnh (07 km), đi bằng đường thủy và đường bộ đều thuận lợi cả. Xe từ 30 – 50 chỗ đều đến được trung tâm xã. Nếu đến các điểm du lịch tại các xã này thì phải chọn phương tiện khác như: Đi bằng đường bộ: Xe đạp, xe lôi máy, xe gắn máy… thì lý thú nhất. Nếu chọn đường thủy thì đi: đò máy, xuồng chèo.
  • Khu du lịch sinh thái Lan Vương, xã Phú Nhuận, khoảng 04 km, nằm cặp tỉnh lộ 887, xe 50 chỗ đến được. 
  • Đình Phú Tự và cây Bạch Mai cổ thụ trên 300 tuổi ở đình làng Phú Tự, xã Phú Hưng, cách thành phố Bến Tre 03 km. Xe 30 chỗ đến  tại điểm, còn xe 50 chỗ đậu ngoài đường tỉnh 885 và đi bộ vào khoảng 200 m.
  • Đình An Hội, đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 2, khoảng 500m (tại trung tâm thành phố Bến Tre), đối diện Trung tâm Thương mại.
  • Từ công viên “Tượng đài Đồng Khởi” đến các cơ sở tôn giáo như: Từ chùa Viên Minh, khoảng 550 m, tọa lạc tại đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 2; chùa Viên Giác, khoảng 1.000m, đi theo hướng vòng xoay chợ Ngã Năm lên đường Hoàng Lam, Phường 5; Nhà thờ Bến Tre, đường Hùng Vương, phường 3, khoảng 1000m; Cao Đài Ban chỉnh Nguyễn Ngọc Tương, đường Trương Định, phường 6, khoảng 1.600 m.
  • Làng nghề sản xuất kẹo dừa” nằm trên địa bàn phường 7, trên đoạn đường  Nguyễn Văn Tư (đoạn từ vòng Bình Phú đi thẳng ra bến phà Hàm Luông cũ). Nếu đi theo đường Hùng Vương, thì nằm từ đoạn cầu Bến Tre 2 cũng lên đến gần bến phà Hàm Luông cũ. Từ công viên “Tượng đài Đồng Khởi” đến làng nghề này khoảng 1.500m. Xe 50 chỗ đến được.
  • Từ công viên “Tượng đài Đồng Khởi”, theo Đại lộ Đồng Khởi khoảng 600 m gặp vòng xoay Đông Tây; khoảng 1.200 m đến vòng xoay ngã tư Phú Khương; khoảng 02 km đến vòng xoay Tân Thành (trước kia là ngã ba Tân Thành), rẽ trái vào đường tránh Quốc lộ 60, là con đường sang trọng và đẹp. Đi vào con đường này gặp vòng xoay Hàm Luông, rẽ trái vào nội ô thành phố Bến Tre, rẽ phải vào xã Bình Phú; đi thẳng theo hướng tay phải là đường dẫn đến cầu Hàm Luông qua cù lao Minh về huyện Mỏ Cày Bắc - Mỏ Cày Nam – Thạnh Phú – Chợ Lách. Đi thẳng với đường song song dẫn vào cầu Hàm Luông đến vòng xoay Bình Phú (phường 7), đi thẳng qua cầu Bến Tre 2, theo hướng phải là tỉnh lộ 887 về huyện Giồng Trôm và Ba Tri. 
 

    Cự ly các điểm đến du lịch Chợ Lách

     Chợ Lách cùng nằm trên vùng đất cù lao Minh với các huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú. Trước đây đến cù lao Minh phải qua phà. Từ tháng 4/2010 cầu Hàm Luông được khánh thành nối đôi bờ thành phố Bến Tre (cù lao Bảo) với cù lao Minh.
    * Từ thành phố Bến Tre đi bằng đường bộ đến các điểm đến của Chợ Lách:
    • Vườn kiểng Năm Công, xã Hưng Khánh Trung B, 18 km, nằm sát Quốc lộ 57.
    • Làng nghề cây giống và hoa kiểng Cái Mơn”; vườn cây trái Cái Mơn; các điểm du lịch sinh thái tại Cái Mơn (xã Vĩnh Thành), 30 km. Xe 30 – 50 chỗ đến được trung tâm xã, rồi chọn phương tiện xe 02 bánh đến các làng nghề, vườn cây trái… Nếu đi bằng đường thủy từ thành phố Bến Tre đến Cái Mơn  mất 03 giờ đồng hồ.
    • Nhà thờ Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, 30 km, nằm cặp Quốc lộ 57, dưới chân cầu Cái Mơn lớn hướng từ thành phố Bến Tre qua (về phía bên trái).
    • Nhà bia học giả Trương Vĩnh Ký, xã Vĩnh Thành, 30 km, dưới chân cầu Cái Mơn lớn hướng từ Tp Bến Tre qua, rẽ sang hướng phải, xe dưới 16 chỗ vào đến nơi; xe 30 -50 chỗ đậu ngoài lộ lớn và đi bộ vào khoảng 300 m.
    • Điểm du lịch Ba Ngói (cồn Phú Đa) xã Vĩnh Bình: 46 km đường bộ, nếu đi đường sông từ thị trấn Chợ Lách theo dòng kênh Lách một khoảng rẽ sang kênh Sụp (tàu lớn đi được), chạy một lúc sẽ gặp sông Cổ Chiên và theo hướng  phải một đổi sẽ gặp cồn Phú Đa. Cũng theo hướng này, nếu đi bằng thuyền nhỏ (đi tắt) theo hướng kênh Bốn Sồ là tới cồn Phú Đa.
    • Điểm vườn hoa, kiểng Hồng Nhị, xã Vĩnh Bình: 46 km đường bộ, nằm sát Quốc lộ 57.
    • Điểm du lịch Năm Vũ, xã Phú Phụng  50 km đường bộ, đi khoảng 04 km nữa là  đến phà Đình Khao sang tỉnh Vĩnh Long.
    • Ngoài  các điểm đến trên, trên đường đi đến trung tâm Chợ Lách, xuất phát điểm từ thành phố Bến Tre tính theo km đường bộ, có thể khám phá các vườn cây ăn trái và một số cơ sở sản xuất cây giống tại các xã như: Tân Thiềng 36 km, (qua cầu Cái Mơn lớn khoảng 01 km, quẹo theo hướng trái 05 km nữa là đến), xe dưới 30 chỗ đến được nơi đây. Tại Tân Thiềng có bến phà nhỏ sang huyện Mang Thít tỉnh Vĩnh Long. Hay đến xã Long Thới 34 km; xã Hòa Nghĩa 38 km (02 xã này nằm cặp trên QL 57), xe 30 – 50 chỗ đến được. Sau đó đến thị trấn Chợ Lách khoảng  40 km; lên xã Sơn Định 42 km. Hoặc từ thành phố Bến Tre đến xãVĩnh Hòa, xã Phú Sơn  khoảng 18 km lộ trình đi như sau: qua cầu Hàm Luông, đến ngã tư đèn đỏ đèn xanh, rẽ phải qua tỉnh lộ 882, đến vòng xoay ngã ba lên trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc tại xã Phước Mỹ Trung (Ba Vát), rẽ sang hướng phải lên xã Vĩnh Hòa và Phú Sơn, 02 xã này đi xe dưới 16 chỗ thuận tiện nhất.
    Nếu đến Chợ Lách bằng đường thủy, nhìn từ bản đồ từ Tiền Giang qua thì theo sông Tiền, lên khúc uốn sông Hàm Luông, quẹo vào vàm Kênh Lách là đến trung tâm huyện. Từ Vĩnh Long đi đường bộ hay đường thủy đến Chợ Lách là dễ dàng nhất.
    Tàu, thuyền xuôi ngược trên kênh Lách đi thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Miền Tây và ngược lại.

    Thursday, October 13, 2011

    Cự ly các điểm đến du lịch sinh thái - miệt vườn huyện Châu Thành - Bến Tre

    - Từ thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm thành phố Bến Tre: 86 km;

    - Từ thành phố Bến Tre – trung tâm huyện Châu Thành: 09 km đường bộ và cự ly từ thị trấn Châu Thành đi bằng đường bộ đến các điểm du lịch trong Châu Thành như sau:
    • Đến bến đò qua Khu du lịch Cồn Phụng (bến phà Rạch Miễu) 02 km đường bộ và qua ngang qua dòng sông Tiền;
    • Điểm du lịch Năm Thành (ấp 1, xã Tân Thạch) 01 km;
    • Điểm du lịch Hồng Vân (ấp 1, xã Tân Thạch) 02 km;
    • Điểm du lịch Tân Phú (ấp Tân Phú, xã Tân Thạch) 01 km;
    • Điểm du lịch Hảo Ái (ấp 2, xã Tân Thạch) 1,5 km;
    • Điểm du lịch Thảo Nhi (ấp 1, xã Tân Thạch) 01 km;
    • Điểm du lịch Quê Dừa (ấp 2, xã Tân Thạch) 1,5 km;
    • Điểm du lịch Hương Dừa (ấp 9, xã Tân Thạch) 02 km;
    • Điểm du lịch Phong Phú 2 (ấp 2, xã Tân Thạch) 02 km;
    • Điểm du lịch Bến Trúc 3 (ấp 3, xã Tân Thạch) 02 km;
    • Điểm du lịch Tân Cồn Quy (ấp 3, xã Tân Thạch) 02 km đường bộ và đi đò ngang qua sông Ba Lai;
    • Điểm du lịch Hồng Vân 2 (ấp 3, xã Tân Thạch) 01 km;
    • Điểm du lịch Quê dừa (ấp 3, xã Tân Thạch) 01 km;
    • Điểm du lịch Diễm Phượng (ấp 10, xã Tân Thạch) 02 km đường bộ và qua ngang qua dòng sông Tiền;
    • Điểm du lịch sinh thái Cồn Quy (ấp 2, xã Quới Sơn) 03 km đường bộ và ngang qua sông Ba Lai;
    • Điểm du lịch Quới An (ấp 2, xã Quới Sơn) 03 km;
    • Đến điểm du lịch An Khánh (ấp 5, xã An Khánh) 03 km;
    • Điểm du lịch Vườn Dâu  (ấp 5, xã An Khánh) 03 km;
    • Đến điểm du lịch An Khánh (ấp 6A, xã An Khánh) 02 km;
    • Điểm du lịch xanh Phú Túc (ấp Phú Thạnh, xã Phú Túc) 05 km;
    • Khu du lịch Forever Green Resort (ấp Phú Khương, xã Phú Túc) 10 km;
    • Điểm du lịch Vườn Hàm Luông (ấp Hàm Luông, xã Tân Phú) 25 km.
    - Các điểm du lịch tại huyện Châu Thành (Bến Tre) như: Năm Thành, Hồng Vân, Tân Phú, 02 điểm Quê Dừa, Hương Dừa, Phong Phú 2, Bến Trúc 3, Hồng Vân 2, đi bằng du thuyền, xuồng máy, xuồng chèo hay phương tiện xe 02 bánh là thuận tiện nhất.

    - Điểm An Khánh, Quới An, Thảo Nhi, Hảo Ái, Hương Dừa, xe 04 bánh 30 chỗ, du thuyền, xuồng chèo đều đến được.

    * Các điểm du lịch kể trên có dịch vụ xe ngựa và cho thuê xe đạp để du khách khám các vườn cây ăn trái hay ngắm cảnh đường làng…

    - Điểm du lịch xanh Phú Túc (homestay) phương tiện xe 04 bánh dưới 15 chỗ và du thuyền đến được.

    - Điểm Diễm Phượng, Tân Cồn Quy và Cồn Quy đi bằng du thuyền là thuận tiện nhất.

    - Điểm đến khu du lịch Forever Green Resort và vườn Hàm Luông (đang làm lộ) khi hệ thống giao thông hoàn chỉnh phương tiện xe 04 bánh 30 - 50 chỗ đều đến được. Hai điểm này nằm bên dòng sông Tiền, nếu đến đây đi bằng du thuyền, thì dưới chân cầu Rạch Miễu phía bờ Bến Tre có bến du thuyền đến 02 điểm này (điểm Forever Green Resort du thuyền đi khoảng 01 giờ, đến điểm vườn Hàm Luông khoảng 02 giờ đồng hồ).

    Cự ly các điểm đến du lịch "Văn hoá - Lịch sử" vùng đất thép thành đồng


    - Từ thành phố Hồ Chí Minh đến trung tâm thành phố Bến Tre: 86 km.
    - Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Giồng Trôm: 18 km và từ  thành phố Bến Tre đến tham quan các điểm tại Giồng Trôm thuận lợi hơn:
    • Đến “Di tích lịch sử Đền thờ và mộ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng”: tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre 6,5 km đường bộ.
    • Di tích cuộc thảm sát ở ấp cầu Hòa ngày 10/01/1947”: tọa lạc tại ấp Cầu Hòa, xã Phong Nẫm, cách thành phố Bến Tre 09 km theo đường bộ.
    • Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định”: nằm trên tỉnh lộ 885 tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre khoảng 8,5 km đường bộ.
    • Di tích nghệ thuật Đình Bình Hòa”: nằm trên đường tỉnh 885, thuộc xã Bình Hòa, Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre 16 km đường bộ.
    • Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống”: xã Tân Hào, Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 25 km, cách thị trấn Giồng Trôm đến 07 km đường bộ. Đi theo đường tỉnh 885 hay 887 đều đến được.
    • Di tích lịch sử nhà Ông Nguyễn Văn Trác, nơi ở, làm việc của đồng chí Lê Duẩn từ 11/1955 – 3/1956”: xã Hưng Lễ, Giồng Trôm, cách thị trấn Giồng Trôm 12 km, cách thành phố Bến Tre 30 km. Đi theo đường tỉnh 885 hay 887 đều đến được.
    • Đền thờ nhà thơ Phan Văn Trị”: xã Thạnh Phú Đông, Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 28 km, cách thị trấn Giồng Trôm 15 km. Đi theo đường tỉnh 885 hay 887 đều đến được.
    • Du lịch sinh thái Cồn Ốc”: xã Hưng Phong, Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 15 km, cách thị trấn Giồng Trôm 25 km. Nếu xuất phát từ thành phố Bến Tre thì theo đường tỉnh 887, nếu theo đường tỉnh 885 thì qua thị trấn Giồng Trôm đi lên. Đi bằng đường thủy từ thành phố Bến Tre đến Cồn Ốc là lý tưởng nhất (khoảng 45 phút).
    • Làng nghề “Bánh tráng Mỹ Lồng”: xã Mỹ Thạnh, cách thành phố Bến Tre 6,5 km và nằm trên đường tỉnh 885.
    • Làng nghề “Bánh phồng Sơn Đốc”: xã Hưng Nhượng, cách thành phố Bến Tre 24 km, cách thị trấn Giồng Trôm 07 km. Đi theo đường tỉnh 885 hay 887 đều đến được.
    • Làng nghề “Tiểu thủ công ngh ệp Phước Long”: xã Phước Long, cách thành phố Bến Tre 13 km, cách thị trấn Giồng Trôm 23 km. Nếu xuất phát từ thành phố Bến Tre thì theo đường tỉnh 887, nếu theo đường tỉnh 885 thì qua thị trấn Giồng Trôm đi lên.
    • Làng nghề “Đan giỏ cọng dừa Hưng Phong”: xã Hưng Phong (xem giới thiệu cự ly đến tại điểm “Du lịch sinh thái Cồn Ốc”).
    * Phương tiện xe 04 bánh từ 30 đến 50 chỗ đều đến được các điểm tham quan như: Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, Khu lưu niện Nguyễn Thị Định, Đình Bình Hòa, Đền Thờ Đồng Văn Cống, Đền thờ Phan Văn Trị, làng nghề bánh tráng Mỹ lồng, làng nghề bánh phồng Sơn Đốc, làng nghề tiểu thủ công nghiệp Phước Long.

    * Điểm tham quan: “Di tích cuộc thảm sát ở Cầu Hòa” và “Di tích lịch sử ngôi nhà Ông Nguyễn Văn Trác nơi ở, làm việc của đ/c Lê Duẩn”, xe 04 bánh đến 30 chỗ đến được.

    * Riêng điểm đến tại Cồn Ốc, xã Hưng Phong, xe 04 bánh từ 30 chỗ đến 50 chỗ đến được bến phà Hưng Phong, sau đó xuống phà qua Cồn Ốc và tìm phương tiện xe 02 bánh để đến các điểm tham quan.