Monday, September 12, 2011

Du lịch lễ hội xứ dừa

“Lễ hội” là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng và xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội diễn ra thường gắn liền với những phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống, môi trường văn hóa và đặc thù của địa phương đó. Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn như các nơi khác, song Bến Tre có những Lễ hội tiêu biểu mang sắc thái riêng của vùng đất xứ dừa. Các lễ hội ở Bến Tre cứ “đến hẹn lại lên” và diễn ra rất hấp dẫn. Bởi thế, Bến Tre không chỉ thu hút du khách thập phương với những sản phẩm du lịch sinh thái của sông nước – miệt vườn, những vùng cây trái nổi tiếng, những làng nghề hay những công trình kiến trúc văn hóa - lịch sử và kiến trúc cổ…, mà Bến Tre còn hấp dẫn du khách bởi những lễ hội rất đặc trưng diễn ra hàng năm tại xứ dừa.
Đến Bến Tre vào tháng giêng, trên vùng đất cù lao Minh du khách sẽ tham gia “Lễ hội truyền thống cách mạng” hay còn gọi là “Lễ hội Đồng Khởi”, diễn ra vào 17/01 tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam. Các hoạt động “hội” gắn liền với “lễ” như: Liên hoan, hội thi, hội thao về văn nghệ, thể dục thể thao hay các trò chơi dân gian, truyền thống, hội chợ triển lãm, trưng bày hình ảnh,… Đây là dịp để quân dân Bến Tre ôn lại truyền thống vẽ vang hào hùng, đã làm nên phong trào “Đồng Khởi” vang dội khắp cả nước vào ngày 17/01/1960. Và cũng là dịp để du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh cách mạng của quân dân Bến Tre.
Cũng trên vùng đất cù lao Minh, Chợ Lách là xứ sở nổi tiếng cả nước về cây lành trái ngọt, về sản xuất cây giống, cây cảnh và hoa kiểng. Vì thế, mà nơi đây đã hình thành nên “Ngày hội cây - trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp” vào dịp tết Đoan ngọ (mùng 5/5 âl) hàng năm. Ngày hội này được phát triển từ ngày hội dân gian, diễn ra trong 05 ngày. Các hoạt động diễn ra trong ngày hội với ý nghĩa thiết thực ghi nhớ công ơn những người đi trước, đồng thời tạo cơ hội giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trồng cây ăn trái, cây giống, hoa kiểng của nhà nông trong tỉnh. Ngày hội còn diễn ra với nhiều nội dung phong phú như: Trưng bày, giới thiệu sản phẩm, những thành tựu trong sản xuất, sinh vật lạ, chương trình hội thảo, hội thi trái ngon - an toàn, đấu xảo trái cây to-sai-lạ, hội thi bàn tay vàng ghép cây giống, hội thi hoa lan, đá chim nghệ thuật, trò chơi dân gian, hội chợ thương mại, lễ tạ ơn thần nông…
Du khách đến Chợ Lách vào dịp này sẽ chiêm ngưỡng, khám phá trọn vẹn những gì độc đáo “nhất” mà xứ sở này đã làm nên thương hiệu và trở thành địa chỉ quen thuộc cung cấp cây giống do người dân tự chiết cành, lai tạo lớn nhất Việt Nam; là xứ sở vườn cây trái ngon nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon… và các loại cây trái khác; là trung tâm sản xuất các loại cây cảnh, hoa kiểng từ những loại cây ngắn ngày đến các loại cây cổ thụ lâu năm, rất được ưa chuộng tại thị trường trong nước.

Nằm trên vùng đất cù lao Bảo, là một trong ba huyện biển của Bến Tre, Ba Tri là vùng đất không có nhiều danh lam thắng cảnh. Song Ba Tri là vùng đất có nhiều di tích của các danh nhân nổi riếng, di tích lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và cả môi trường sinh thái rừng và biển. Nếu đến Ba Tri từ ngày 01 - 03/7 dương lịch hằng năm, du khách sẽ tham gia vào “Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre 01/7” được tổ chức tại khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, xã An Đức.

Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre diễn ra với ý nghĩa tôn vinh những giá trị tư tưởng, nhân cách đạo đức của một danh nhân, một nhà giáo, một người thầy thuốc suốt đời vì nhân dân, đem tài năng và trí tuệ của mình phục vụ cho dân, cho đất nước. Tùy theo năm chẵn, lẻ mà lễ hội được tổ chức qui mô lớn, nhỏ. Nhưng các hoạt động hội vẫn diễn ra như: Sân khấu hóa, liên hoan đờn ca tài tử, dàn nhạc lễ; biểu diễn trống hội, võ thuật; các trò chơi dân gian: thi đẩy gậy, kéo co, nhảy bao bố, đập niêu, kéo tay…; hội thi  mâm xôi - mâm cơm ngày giỗ,… Đặc biệt, là cuộc thi hóa trang các nhân vật trong truyện “Lục Vân Tiên” được rất đông người tham gia. Hay triển lãm ảnh về những thành tựu kinh tế- xã hội của tỉnh Bến Tre và các tác phẩm văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu. Đến với lễ hội truyền thống văn hóa Bến Tre là dịp để du khách tìm hiểu thêm về thân thế và sự nghiệp văn chương cách mạng của Cụ Nguyễn Đình Chiểu; tham quan, khám phá các hoạt động “hội” tại khu di tích, thắp hương tưởng nhớ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.
Cũng như các địa phương khác, Bến Tre không chỉ có lễ hội văn hóa - lịch sử, mà Bến Tre còn có những lễ hội mang đậm nét tín ngưỡng dân gian hết sức độc đáo. Nếu du khách đến vùng biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú vào dịp tháng 6-7 âm lịch du khách sẽ được tham gia trọn vẹn vào “Lễ hội tế thần cá Ông” hay còn gọi là “Lễ hội Nghinh Ông” của cư dân vùng biển cúng “Ông” cầu cho mưa thuận gió hòa và cư dân đi biển gặp nhiều may mắn. Lễ hội này diễn ra hàng năm, chủ yếu tập trung ở vùng đất biển Bình Đại. Du khách đến đây vào 16/6 âm lịch, rất thú vị khi khám phá “Lễ hội Nghinh Ông” tại xã Bình Thắng. Đây là lễ hội lớn nhất, tiêu biểu nhất của lễ hội cúng “Ông” của cư dân vùng biển Bến Tre. Lễ hội Nghinh Ông thường diễn ra hai phần “Lễ” và “hội”. Nghi thức lễ mừng sắc Ông diễn ra tại Lăng thờ cá Ông trên bờ và sau đó tổ chức tàu (thuyền) thành đoàn cùng nhau ra khơi để tiến hành các nghi thức lễ cúng “Ông” trên mặt biển. Phần lễ gồm: Túc yết, Nghinh Ông, tế tiền hiền, hậu hiền, lễ Chánh tế và xây chầu đại bội, vào lễ các thuyền đánh cá đều giăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở đầu mũi của mỗi tàu đánh cá, chủ nhân bày mâm cúng trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, chiếc đầu heo hay cả một con heo quay cùng với hương hoa. Sau khi du khách tham gia các nghi thức lễ xong, bắt đầu tham gia vào phần hội khá sôi nổi và hào hứng với các chương trình độc đáo như: múa lân, các trò chơi dân gian, xem hát bội,…

Trở lại vùng đất cù lao Bảo, về lại đất biển Ba Tri, đến xã Phú Lễ du khách sẽ được tham gia vào “Hội đình Phú Lễ” diễn ra 02 lần trong năm (lễ hội Kỳ Yên diễn ra từ 18 - 19/3 âm lịch và lễ Cầu Bông diễn ra từ ngày 09 – 10/11 âm lịch). Đây là lễ hội truyền thống hàng năm của nhân dân trong vùng, tưởng nhớ Thành Hoàng và những vị thần có công khai khẩn đất đai, lập làng và cầu cho quốc thái dân an, nhà nhà no ấm. Đến với hội đình Phú Lễ là dịp để du khách vui chơi thoải mái và hòa cùng không khí nhộn nhịp của lễ hội; tham gia cúng đình, nghe hát sắc bùa Phú Lễ,  nghe hát bội,.... Đó một hình thức tín ngưỡng dân gian độc đáo mà đình Phú Lễ vẫn còn lưu giữ cho đến ngày nay. 


Đặc biệt, những năm gần đây Bến Tre đã sáng tạo ra lễ hội, mang đặc trưng của vùng đất xứ dừa, đó là “Lễ hội Dừa”. Lễ hội này hai năm tổ chức một lần và thường diễn vào tháng giêng, gắn kết với “Lễ hội truyền thống cách mạng 17/01” của Bến Tre. Đến với những ngày lễ hội Dừa, du khách sẽ khám phá những hoạt động và các chương trình đặc sắc như: Sân khấu hóa tái hiện sự hình thành, phát triển, đấu tranh và xây dựng vùng đất cù lao xứ dừa; hội làng nghề truyền thống; các hội thi, liên hoan về dừa; các gian hàng trưng bày các sản phẩm từ cây dừa, các giống dừa mới…; tham quan, mua sắm hội chợ thương mại xuân hay “Tuần lễ Doanh nghiệp vừa và nhỏ”…. Du khách được hòa mình vào không khí sôi nổi hào hứng của lễ hội với tất cả sự nhộn nhịp của một thành phố trẻ nằm bên sông Bến Tre.

Điểm nhấn của lễ hội Dừa là giới thiệu sản phẩm hàng hóa truyền thống của các làng nghề, cũng như tổ chức trình diễn sản xuất một số nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của tỉnh như: thi chế biến và trưng bày các loại bánh, mứt, kẹo, các món ăn, thức uống chế biến từ dừa với sự tham gia của các nhà nông, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh; thi đấu xảo các sản phẩm từ dừa bao gồm các sản phẩm trồng trọt, làm hàng thủ công mỹ nghệ nhanh nhất, đẹp nhất (đan giỏ bằng cọng dừa, se chỉ, làm thảm sơ dừa),…. Lễ hội Dừa, là dịp để tôn vinh những giá trị sáng tạo, những tài năng có tâm quyết của nghệ nhân và người thợ thủ công làm ra những sản phẩm từ cây dừa. Đây cũng là cơ hội để Bến Tre giới thiệu tiềm năng du lịch sinh thái, di tích và văn hóa lịch sử, đặc biệt là tiềm năng kinh tế qua các sản phẩm từ dừa; đồng thời đó còn là cơ hội để khách tham quan thưởng thức những món ngon, vật lạ ở Bến Tre nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Hay xác nhận kỷ lục về những sản phẩm làm ra từ dừa...

Những hình ảnh diễn ra trong lễ hội dừa

Đến xứ dừa du lịch vào các dịp lễ hội diễn ra, du khách sẽ rất ấn tượng, hài lòng với những chương trình, những hoạt động diễn ra trong lễ hội với những nét độc đáo mang đặc trưng riêng biệt của quê hương xứ dừa. Mỗi lễ hội ở Bến Tre đều có ý nghĩa, mang sắc thái riêng và thật sự đã góp phần làm nên phẩm sản du lịch, điểm đến du lịch hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước./.

Wednesday, September 7, 2011

Các món ăn biến tấu từ "chuột dừa"

Sưu tra từ các tư liệu và sách “Bến Tre với văn hóa ẩm thực”, ở xứ dừa Bến Tre có món ăn dân dã, thú vị, được chế biến từ một loài vật có sẵn trong thiên nhiên, mà từ xưa đến nay người dân xứ dừa rất khổ sở vì nó. Bởi ít nhiều gì nó cũng làm ảnh hưởng đến kinh tế của chủ vườn. Loài vật này có cái tên gắn liền với loại cây đã bám đất, bám rễ từ lâu và dẻo dai trước bão giông, quật cường cùng con người Bến Tre trong đấu tranh và xây dựng xứ sở cù lao này, đó là “cây dừa”. Ở ngoài đồng thì loài vật này cắn phá ruộng lúa, vào trong vườn thì nó cắn phá trái dừa, nên người dân xứ dừa gọi nó là “Chuột dừa”.

 Cách chế biến đến phương pháp bắt chuột dừa cũng là đề tài cho giới “sành ăn” bàn cải. Theo như lý giải của người chế biến các món ăn này, thì chuột dừa hay chuột đồng thật ra chỉ là một, nhưng do môi trường sống của mỗi loài chuột có khi ở đất vườn trồng dừa, có khi trên đất ruộng cấy lúa nên có tên gọi khác nhau.

Từ xa xưa loài chuột đã được dân gian ví von thành những câu ca dao, tục ngữ, các mẫu chuyện ngụ ngôn hay được những người làm nghệ thuật sáng tác thành những điệu lý, câu hò, bài vè nói về chuột nghe rất hay.

Bắt chuột là một nghệ thuật và còn là nét văn hóa dân dã độc đáo ở xứ dừa, nhưng không phải ai cũng biết đến. Chính vì thế mà trong dân gian truyền miệng những câu ca dao nghe rất bùi tai:

Làm nghề bẫy chuột ít ai theo
Vừa hưởng thú vui lại đỡ nghèo
Chiều gài mỏi cổ bao giờ ngán
Sáng gỡ bầm tay mấy thuở lèo
Mưa nắng lội lầy chân bẩn nhớp
Tháng năm thanh thản ruột trong veo…

Nghề săn chuột dừa xuất hiện một cách ngẫu nhiên, có người nói xuất hiện vào những năm 80 của thế kỉ XX, khi những vườn dừa của Bến Tre được trồng mới sau giải phóng đồng loạt ra trái, thì cũng là lúc dừa Bến Tre bị dòng họ nhà chuột phá tơi tả, rụng nằm ngổn ngang dưới gốc dừa. Cũng vào thời điểm này, xuất hiện những người làm nghề săn chuột dừa chuyên nghiệp.

Theo kinh nghiệm của những người làm nghề săn chuột, thì khi khí trời nóng lên, đồng áng khô hạn, theo tập quán lũ chuột từ đồng trống lần lượt kéo nhau vào vườn trú ngụ trên những đọt dừa rất mát và những trái dừa là nguồn thức ăn, thức uống sẵn có tại chổ để chúng xơi. Cơm dừa là món mà loài chuột rất khoái khẩu, thường là những trái dừa cứng cạy hay còn gọi là dày cơm, dừa non. Trái dừa còn là phương tiện để chúng đua tài “khoét hang, moi lỗ, thử răng”. Vì thế, vào những ngày tháng này tại những vườn dừa Bến Tre trái dừa bị “chuột khoét” nằm trắng đất.

Tuy có nhiều cách bắt chuột, nhưng cũng không sao tiêu diệt hết được nó. Người dân xứ dừa phải tìm ra nhiều  phương pháp để bắt chúng như: Bẫy lồng, bẫy đập (được gài dưới gốc dừa), mồi nhữ chúng là cơm dừa. Hay người ta còn dùng biện pháp dân gian để bắt như: Dùng sào chọc cho chuột chạy ra tàu lá, rồi dùng giàn thun bắn rơi xuống đất để chó vồ. Cách bắt này người ta cho là trò chơi con nít, mang tính tiêu khiển cho vui là chính, nhưng dần dần về sau lại trở thành một nghề chuyên nghiệp và nghề này hoạt động nhiều nhất là vào mùa khô.

Bắt được chuột dừa, muốn có món ăn ngon phải trải qua các công đoạn chế biến, trước hết là sơ chế, thường có hai cách: thui rồi lột da và lột da không thui. Với cách thui rồi lột da, người ta thường sử dụng lửa rơm thui chuột bằng cách cho một lượt chuột vào trong đống rơm, thui cho cháy lông, nứt da, sau đó lột bỏ da làm sạch lại. Với cách lột da không thui, thường cắt bỏ đầu lột da từ trên xuống đến chân.

Sau khi sơ chế xong thịt chuột dừa, có thể chế biến ra rất nhiều món ăn, nhưng người dân xứ dừa thường chọn các món đơn giản, dễ làm, nhưng lại ăn rất ngon và hấp dẫn, ai cũng có thể làm được:

* Chuột dừa nướng
Ướp thịt chuột với tỏi, hành, sả, ớt bâm nhuyễn; muối, tiêu, bột ngọt, đường và ngũ vị theo yêu cầu, để vài giờ cho gia vị thấm vào thịt chuột, sau đó đem phơi nắng, rồi đem nướng thì càng ngon. Khi nướng thịt chuột phải sử dụng lửa than nướng mới ngon. Chúng ta có thể đặt thịt chuột trên vỉ hay cặp gắp để nướng cũng được; nướng đến khi nào thấy thịt chuột khô, vàng, thơm là có thể dùng được. Chuột dừa nướng chấm với nước tương, muối tiêu hay nước nắm tỏi ớt đều ngon cả. Mùi vị thịt chuột dừa nướng tỏa mùi rất thơm, ngon, hấp dẫn, ăn không ngán. Người dân xứ dừa thường dùng món ăn này với cơm nếp nấu nước cốt dừa hay xôi rất tuyệt.

* Chuột dừa quay nước cốt dừa (hay còn gọi là chuột dừa quay chảo)
Đối với món ăn này sau khi ướp gia vị vào thịt chuột dừa xong, bắc chảo mỡ (dầu) lên khử tỏi cho thơm, sau đó cho thịt chuột vào đảo cho đều đến khi thịt khô, săn lại, rồi cho  nước cốt dừa dão vào nấu lên, tiếp tục cho nước cốt dừa nguyên chất vào và thường xuyên đảo qua, đảo lại cho đến khi nước trong chảo còn hơi sền sệt, nhắc xuống cho ra đĩa, rắc đậu phộng rang lên. Món này khi chế biến có thể dùng trái khổ qua đèo và hành củ loại lớn thêm vào, để phong phú thêm món ăn và khi dùng ít ngán. Món ăn này do có hương vị của nước cốt dừa nên có vị béo, thơm, rất hấp dẫn.

* Chuột dừa xé phay
Thịt chuột dừa làm sạch, để ráo nước (nên chọn con to, mập để có nhiều thịt). Bắt nồi cơm lên bếp lửa than, đợi khi cơm vừa chắt nước xong, lấy lá chuối sạch lót lên trên mặt cơm, rồi để thịt chuột dừa vào đậy nắp nồi lại. Cơm chín thì đồng thời thịt chuột cũng chín tới và bốc mùi thơm; đem thịt chuột ra xé phay trộn với rau răm, chấm với muối tiêu, muối ớt vắt chanh, không thua gì thịt gà tơ thả vườn.

* Chuột dừa xáo lá cách với nước cốt dừa:
Món ăn này, thịt chuột phải được bầm nhuyễn, cách ướp thịt và khử thịt giống như cách làm “Chuột quay nước cốt dừa”, nhưng ở đây ta người dùng lá cách (sắt thành sợi). Cây lá cách là loại cây thiên nhiên, là loại rau sạch, có mùi thơm, ăn rất mát và nên thuốc, dễ tìm, nên người ta rất thích dùng nó xáo thịt chuột với nước cốt dừa. Món này dùng chung với cơm trắng hay bánh mì đều ngon cả.

Có thể khẳng định rằng, người dân xứ dừa không ưa loài chuột chút nào cả, nhất là loài chuột chuyên phá hại vườn dừa, nên tìm mọi phương cách để tiêu diệt nó. Tuy ghét nó mà nói vậy, nhưng phải công nhận rằng thịt chuột dừa ăn rất ngon, béo hơn chuột đồng, thịt nó trắng và có một mùi thơm đặc biệt. Có lẽ cả đời chúng chỉ ăn, uống chất bổ tiết ra từ trái dừa, nên cái ngon, cái béo của trái dừa đã thấm dần vào thịt của chúng, vì thế mà thịt chuột dừa rất thơm ngon.

Ngoài các món kể trên, chuột dừa còn được chế biến ra nhiều món ăn độc đáo, hấp dẫn khác như: Chuột dừa kho rau râm, chuột dừa xào củ kiệu, chuột dừa xào lăn, chuột dừa chiên rôti, chuột dừa nấu cà ri, chuột dừa nướng muối ớt, chuột dừa nấu cơm mẽ…. Các món ăn được chế biến từ chuột dừa rất giàu chất đạm và bổ dưỡng. Có thể nói, ăn thịt chuột dừa là mắc ghiền! Nếu một lần ghé thăm Bến Tre, du khách đừng quên thưởng thức món ăn dân dã, độc đáo, thú vị, mang đậm hương vị đặc trưng của xứ dừa này nhé!

Monday, September 5, 2011

Hương vị quê dừa

Bến Tre được hình thành trên ba dãy cù lao lớn, có hệ sinh thái rất phong phú đa dạng, trong đó dừa là nguồn nguyên liệu dồi dào mà từ lâu người Bến Tre đã biết tận dụng khai thác. Chính cái hương vị thanh ngọt của các loại dừa trên đất Bến Tre đã tạo nên  những đặc trưng riêng, mà khó có thể lẫn lộn ở bất kỳ nơi nào. Nhờ thiên nhiên ưu đãi mà đất của Bến Tre rất màu mỡ, phù hợp phát triển rất nhiều loại dừa khác nhau trên vùng đất này như: Dừa dâu, dừa chùm (trái nhỏ nhưng nước rất ngọt), dừa dứa (thơm mùi lá dứa), dừa xiêm xanh, dừa Tam quan…. Các loại dừa này người ta thường lấy nước để uống; nước dừa cũng là một trong những nguyên liệu góp phần làm nên các món ăn ngon. Ông bà xưa kia ở xứ sở này đã tận dụng cơm dừa, nước dừa để chế biến và làm nên những món ăn hấp dẫn, độc đáo, được lưu truyền từ đời nay sang đời khác, được nhân rộng đến nay và góp phần làm phong phú thêm sắc màu ẩm thực của xứ dừa Bến Tre.
MỨT DỪA
Mứt dừa là món ăn truyền thống khá quen thuộc trong ngày Tết, ngày giỗ… của người dân Nam bộ nói chung và Bến Tre nói riêng. Để làm được mứt dừa ngon, hấp dẫn, thì việc chọn trái dừa ngon là một yếu tố quan trọng nhất. Dừa phải là trái dừa vừa rám tới, chỉ lấy phần cơm bên trong. Cạy cơm dừa ra, gọt sạch lớp vỏ lụa màu nâu đen, sắt mỏng thành sợi dài, đều, rồi rửa sạch lại, để ráo, trộn  vào với đường cát trắng, sau đó để lên bếp lửa riu riu, xào lên liên tục, đến khi mứt dừa khô lại. Mứt dừa làm ra phải khô, ngọt đều thì mứt mới ngon và cũng có thể có dùng nhiều màu sắc khác nhau để pha trộn vào như màu hồng (từ củ dền), màu xanh (từ lá dứa) hay màu tím lá cẩm hoặc màu quả gấc… hay một số màu thực phẩm  khác để mứt dừa thêm màu sắc sinh động.
CHUỐI XÀO DỪA
Chuối xiêm nấu chín, xắc thành từng miếng nhỏ, đem khèo với nước cốt dừa pha với bột mì. Cho vào ít đường, muối, đậu phộng rang, bột khoai, thì món chuối xào dừa sẽ là món ăn tuyệt vời.
CHÈ THƯNG
Lấy cơm dừa non dát thành sợi mỏng, nấu với đậu phộng, đậu xanh, bột khoai, khoai lang, bột bán, nước cốt dừa… ăn với đá đập nhuyễn rất hấp dẫn. Chè thưng dùng nóng cũng rất tuyệt.


CHÈ BÍ NGÔ CỐT DỪA
Là món ăn bổ dưỡng, tăng cường miễn dịch cho cơ thể, làm đẹp da. Món ăn có vị ngọt thanh của bí ngô, cùng với vị béo ngậy của nước cốt dừa tạo nên hương vị đặc trưng của quê hương xứ dừa.

BÁNH XÈO

Bánh xèo là món ăn rất phổ biến của người Nam bộ, nhưng ở Bến Tre món bánh xèo lại được biến tấu ra nhiều hương vị khác như:

- Bánh xèo củ hủ dừa: Củ hủ dừa là phần đọt non của cây dừa xắc thành sợi làm rau để chiên bánh xèo rất thơm và ngọt.

- Bánh xèo hến, đặc biệt là hến vùng Chợ Lách rất ngọt, to nên rất được ưa chuộng.

Nguyên liệu làm nên chiếc bánh xèo ngon hay không còn phụ thuộc vào độ béo vừa phải của nước cốt dừa, cách chiên bánh, … Bánh xèo chỉ ăn ngon khi vừa mới chiên xong nhờ độ giòn, nóng kết hợp với các loại rau vườn như đọt xoài non, rau thơm, …

BÁNH BÒ DỪA NƯỚNG

Bánh bò dừa nướng có nguyên liệu chính là bột mì, bột nổi, trứng gà. Nhân bánh là dừa bào sợi xào với đường cát trắng và đậu xanh. Bánh bò dừa nướng dẻo dẻo cùng với vị béo của nhân dừa, vị thơm của mùi nướng ăn rất hấp dẫn.

BÁNH TÉT

Một loại bánh rất đặc trưng cho đất Bến Tre,  không thể thiếu trong các dịp giỗ, tết cổ truyền dân tộc. Đó là bánh tét. Bánh tét rất đa dạng nên có  rất nhiều sự lựa chọn cho người thưởng thức. Thông thường bánh tét có các loại nhân: đậu xanh, nhân chuối trái, nhân đậu xanh với thịt ba chỉ hay nếp xào với chuối xiêm bóp nhừ ra trộn với dừa rám bâm nhuyễn. Với độ khéo léo của người làm bánh, chiếc bánh tét ngày nay còn được bài trí rất đẹp mắt, người làm bánh tét gọi đó là bánh tét chữ.
     
ỐC SÀO NƯỚC CỐT DỪA 

Ốc sào nước cốt dừa có thể dùng ốc bưu (ốc bưu thì luộc trước sau đó lể ốc ra), ốc hút, …. có hương vị rất độc đáo, vị béo của dừa kết hợp với vị thanh ngọt của ốc làm cho món ăn không gây cảm giác ngán. Chế biến món này khâu ướp gia vị cực kỳ quan trọng, phải đảm bảo để đủ các loại gia vị như: ớt, xả , tỏi, muối, đường, nước mắm để tạo nên hương vị đặc trưng của món ăn.

TÉP RANG DỪA
Tép rang dừa là món ăn thường ngày của người dân Bến Tre, bởi cách chế biến đơn giản, dễ làm mà lại ngon và đặc biệt là có độ béo của nước cốt dừa. Hiện nay trong các thực đơn, “tép rang dừa” đã trở món ăn quen thuộc không chỉ ở Bến Tre mà còn phổ biến rộng rãi ra ngoài tỉnh. Tép rang dừa ăn với cơm trắng, dẻo thì không thể chê vào đâu hết.

CƠM DỪA
Để làm món này, người ta dùng gạo vo sạch bằng nước dừa, để ráo rồi cho vào trái dừa, đổ nước dừa tươi vào vừa đủ, rồi đậy nắp lại đem chưng. Dừa dùng nấu cơm ngon nhất là dừa xiêm, trái phải ở độ tuổi vừa nạo. Sau khi chọn được trái dừa, người ta gọt cho quả dừa có hình dạng đẹp mắt, rồi cắt ngang một phần trên quả dừa để trút nước ra và lấy miếng cắt đó làm nắp để đậy. Cơm dừa ăn với tôm rang mặn là món ăn vô cùng hấp dẫn, không thể quên.

THỊT HEO KHO NƯỚC DỪA (còn gọi là thịt kho tàu)
“Thịt kho nước dừa” là món đặc trưng của Bến Tre, bởi sau khi ướp thịt thì nguyên liệu chủ yếu để nấu là nước dừa. Nước dừa của Bến Tre có vị thanh ngọt nên khi chế biến xong có mùi vị đặc trưng thơm ngon, không ngán. Món ăn này không chỉ có ở  Bến Tre mà cả vùng sông nước miền Tây Nam Bộ. Tuy nhiên, thịt kho tàu ở Bến Tre vẫn là “nhất”, bởi Bến Tre là xứ sở rừng dừa, nên người dân ở đây chỉ dùng nước dừa để kho thịt, nước dừa ngấm vào từng miếng thịt và trứng vịt, tạo nên vị ngọt rất thanh. Thịt kho nước dừa đến khi sắc lại sẽ có màu tự nhiên rất đẹp, nhìn rất hấp dẫn.

CỦ HỦ DỪA HẦM VỚI BẮP GIÒ HEO
Đây là món ăn nhiều dinh dưỡng và hấp dẫn,  với hương vị ngọt ngào từ củ hủ dừa được lấy trên ngọn dừa, cùng với vị thơm béo của bắp giò heo hòa quyện vào nhau tạo nên món ăn đầy quyến rũ.



GỎI CỦ HỦ DỪA
Ngoài ra, trên cây dừa còn có một thành phần là “củ hủ dừa” chế biến ra món ăn rất ngon, được nhiều người ưu thích như: món gỏi, xào … rất ngọt, hấp dẫn và lạ miệng. Củ hủ dừa là phần ngon nhất của cây dừa, muốn làm được món ngon này chúng ta cần phải lựa củ hủ “già” tức là cây dừa nào càng lâu năm thì củ hủ dừa càng ngọt thanh và giòn. Món ăn kết hợp giữa củ hủ dừa với tôm, tai lợn ngâm chua, hoặc thịt bò và các loại rau củ khác. Đây là món ăn ít béo, thanh đạm.

Cùng với đất và người nơi đây, cũng như nguyên liệu từ dừa, đã góp phần chế biến đa dạng ra nhiều món ăn, làm phong phú và tô điểm thêm cho ẩm thực Bến Tre những màu sắc mới. Nếu một lần đến đây du khách cũng chưa cảm nhận hết hương vị của xứ sở quê dừa. Xin mời du khách hãy tìm đến xứ dừa lần  nữa để tiếp tục khám phá, thưởng thức và tin rằng du khách sẽ rất hài lòng về các món ăn khác có chất liệu  từ dừa./.

Thursday, August 25, 2011

Du lịch về làng nghề nông nghiệp nông thôn xứ dừa

Làng nghề được xem một môi trường văn hóa, kinh tế, xã hội và công nghệ thủ công truyền thống lâu đời mang đậm nét dân gian, cũng như chứa đựng tính nhân văn sâu sắc. Chính môi trường làng nghề đã bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật, kỹ thuật được truyền từ đời nay sang đời khác. Làng nghề phát triển không chỉ giải quyết việc làm cho nông thôn, mà còn góp phần giữ gìn và phát triển văn hóa truyền thống, tạo ra bộ mặt mới cho nông thôn, góp phần làm phong phú thêm truyền thống văn hóa và làm giàu trên quê hương mình.

Bến Tre nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu long, là một tiểu vùng hội tụ, giao thoa văn hóa quan trọng của 4 dân tộc Việt - Chăm – Hoa – Khơme. Do vậy, mà làng nghề nông nghiệp, nông thôn ở đây ra đời và gắn liền với phong tục, đời sống văn hóa, cũng thể hiện đầy đủ bản sắc thiên nhiên, đa dạng các sản phẩm vật chất lẫn tinh thần, góp phần tạo nên bức chân dung bình dị, nhưng sống động. Đến xứ dừa, du khách sẽ thú vị khi khám phá một số làng nghề nông nghiệp, nông thôn tiêu biểu như:

* Làng nghề cây giống và hoa kiểng

Nằm dọc theo con sông Cổ Chiên hiền hòa  được phù sa bồi đắp quanh năm, thiên nhiên ban tặng cho vùng đất Chợ Lách phù sa màu mỡ, thuận lợi cho việc phát triển cây trồng tươi tốt quanh năm và trái ngọt bốn mùa. Chợ Lách nằm ở phần đất hẹp nhất ở phía trên cùng của vùng đất cù lao Minh, nhưng rất thuận lợi về giao thông đường thủy lẫn đường bộ, nên từ ngàn xưa đã thu hút đông đảo người dân hội tụ về nơi đây an cư lạc nghiệp, để tạo dựng nên những vườn cây xanh trái ngọt, cũng như sản xuất cây giống và hoa kiểng nổi tiếng cả khu vực ĐBSCL. Chính vì lẽ đó, mà khách thập phương ví Chợ Lách là xứ sở của “Vương quốc cây trái và hoa kiểng” của cả vùng Nam Bộ.
 
Đã từ lâu, người dân nơi đây đã biết sáng tạo ra nghề chiết cây, ghép cành, lai tạo và nhân giống cây ăn quả, nghề này trở thành nghề cha truyền con nối và đòi hỏi ngoài sự tỉ mỉ, kinh nghiệm trồng cây, canh thời vụ, còn phải có kiến thức khoa học nhất định để cho ra đời những giống cây mới, cho năng suất và chất lượng cây ăn quả cao hơn.

Đi đến đâu du khách cũng đều bắt gặp được những hình ảnh thân thương, chăm chỉ, tất bật, khẩn trương của người dân Chợ Lách hiền hòa, thân thiện, kết hợp với sự khéo tay của họ đã tạo ra những tác phẩm bằng cây kiểng rất điệu nghệ, mà mọi người ví những người làm kiểng là “Nghệ nhân miệt vườn”. Người nghệ nhân khi muốn cho ra đời một tác phẩm, phải có ý tưởng, phải trải qua nhiều công đoạn, mà theo người xưa khi uốn kiểng phải chăm chút trong từng động tác một và hòa mình vào trong tác phẩm đó, thì mới khắc họa được nhiều chi tiết sống động, có hồn, với mong muốn góp thêm thật nhiều hương sắc cho cuộc sống, thì tác phẩm của mình mới gọi là hoàn thiện. 
Mảnh đất màu mở này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân nơi đây phát triển nên làng nghề cây giống và hoa kiểng. Đến đây, du khách sẽ mặc sức khám phá bộ sản phẩm độc đáo là hoa kiểng hình thú, trong đó nổi lên bộ hình thú 12 con giáp. Nhiều du khách phương xa rất ấn tượng trước phong cách riêng trên loại hình kiểng thú này. Mặc dù cây cảnh sử dụng để làm vẫn là cây si, nhưng với đôi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đã dày công sáng tạo, tạo nên giá trị mới trên từng đường nét nghệ thuật của tác phẩm. Xem bộ kiểng thú, mỗi người đều có thể hình dung ra được con vật đó. Tết năm nào thì sản phẩm con đó được tập trung làm nhiều hơn để bán. Ngoài cây si ra, người ta vẫn có thể sử dụng các loại cây khác để uốn kiểng thú như: bùm sụm, mai trắng, tắc,…. Điều quan trọng chính là nghệ thuật tạo hình, có nghĩa là người làm phải hình dung ra được hình dáng của con vật, sau đó tạo nên điểm uốn phải thật sắc, thật sống động và có hồn. Những “Nghệ nhân miệt vườn” làm nghề này cho biết đến giờ hầu như chưa có sách vở, chưa có thầy dạy, chỉ là làm rồi rút kinh nghiệm, nghề lại dạy nghề. Ngoài bộ kiểng thú 12 con giáp ra, còn có một số tác phẩm khác như: Chai sâm banh, bộ cốc ly, bình hoa… hay dùng trong trang trí trước cổng ra vào rất đẹp mắt. Hằng năm, vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc được xem là “đỉnh điểm” của nghề cây cảnh và hoa kiểng. Nếu du khách đến xứ dừa vào mùa này, thì mới cảm nhận hết được cái “nhất” của vùng Chợ Lách. Nhất là dọc hai bên đường cây cảnh, hoa kiểng được trưng bày dày đặc và kết hợp với sự hối hả, tất bật của những ngày tết đến, tạo nên sự mê hoặc kỳ lạ, mà chỉ những ai đặt chân đến đây mới có thể cảm nhận hết được.

Hiện nay, nói đến Chợ Lách hay địa danh Cái Mơn (Vĩnh Thành), đã trở thành địa chỉ quen thuộc và trở thành nơi cung cấp cây giống do người dân tự chiết cành, lai tạo lớn nhất Việt Nam và là xứ sở vườn cây trái ngon nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon… và các loại cây trái khác. Đặc biệt, là trung tâm sản xuất các loại cây cảnh, hoa kiểng, từ những loại cây ngắn ngày đến các loại cây cổ thụ lâu năm, rất được ưa chuộng tại thị trường trong nước và nhiều nước như: Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản, …. Hiện tại, Chợ Lách có 17 làng nghề cây giống và hoa kiểng được công nhận, phần lớn đều tập trung tại xã Vĩnh Thành, một vài ấp ở xã Phú Sơn và Vĩnh Hòa. Các xã còn lại của Chợ Lách cũng có nhiều hộ sản xuất cây giống, hoa kiểng, vườn cây ăn trái thứ thiệt, chất lượng, đủ sức cho du khách đến tham quan khám phá.
* Làng nghề muối Bảo Thạnh – Ba Tri

Bến Tre có 65 km bờ biển, nằm ở 3 huyện: Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú. Vì thế mà làng nghề nông nghiệp, nông thôn ở đây cũng phát triển khá phong phú. Đến Bến Tre, du khách không thể bỏ qua làng nghề truyền thống sản xuất muối ở Bảo Thạnh, Ba Tri. Người ta thường gọi những người làm nghề này với tên gọi là “diêm dân”, bởi cái nghề này luôn “bán mặt cho đất và bán lưng cho trời”, phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết. Làm nghề muối rất vất và chỉ làm được vào mùa khô, mùa mưa thì không làm được. Theo như nhiều người từng trụ lại lâu năm với nghề làm muối, thì xã Bảo Thạnh bắt đầu làm muối từ trước những năm 30 của thế kỷ XIX, đây là nghề cha truyền con nối từ đời này sang đời khác. Đối với nghề này không cần phải có vốn nhiều nhưng đòi hỏi phải có công lao động đông, cùng những công cụ thông thường như: ống lăn, bồ cào, trang….Cách làm muối nhìn đơn giản nhưng chẳng dễ chút nào, làm phải làm từng công đoạn như: Ban đầu phải đắp bờ, làm bằng phẳng nền ruộng như một cái khuôn, rồi phơi khuôn, lấy nước vào khuôn, chuyền nước qua lại các khuôn cho phù hợp, rồi rắc muối giống và sau cùng là thu hoạch.  



 * Làng nghề cá khô An Thủy – Ba Tri
Làng nghề được nằm ven biển hình thành hơn nửa thế kỷ. Do đây là nghề thủ công bằng tay, nên hoạt động chủ yếu hiện nay đều tập trung vào hộ gia đình. Nghề cá khô phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên, ngày nắng gắt thì đạt năng suất cao, còn những ngày vào mùa mưa thì không thể làm được, mà nếu có làm thì phải sấy trong nhà. Địa chỉ Tiệm Tôm – xã An Thủy –Ba Tri có thể được xem là thánh địa của nghề này. Cứ mỗi chuyến đánh bắt về là người dân nơi đây bắt tay vào làm. Vì làm cá khô đòi hỏi cá phải còn tươi mới cho ra sản phẩm chất lượng và điều quan trọng là phải kịp con nắng trong ngày.

* Làng nghề chế biến cá khô Bình Thắng – Bình Đại
Làng cá Bình Thắng (Bình Đại) có từ trước năm 1950. Nghề đánh bắt cá xuất hiện đầu tiên ở xóm ghe Tư Thôn (nay thuộc ấp 3 của xã). Hiện nay, làng cá Bình Thắng không ngừng phát triển và tiến đến thiết lập nên thương hiệu. Nghề đánh bắt cá, chế biến thành cá khô ở đây ngày nay trở thành nghề truyền thống, tập trung ở các ấp: 2, 3, 4 và 5. Sản lượng tiêu thụ rộng trên thị trường ngoài tỉnh rất nhiều. Nghề chế biến cá khô ở Bình Thắng (Bình Đại) cũng giống như cách chế biến cá khô ở An Thủy. Bình Thắng còn là cái nôi, là trung tâm tổ chức Lễ hội Nghinh Ông lớn nhất hàng năm, không những của huyện Bình Đại mà còn là của tỉnh Bến Tre.

Đến với các làng nghề ở Bến Tre, du khách sẽ được trải mình và khám phá thêm những cái hay của chính vùng đất xứ dừa tạo nên, sẽ làm du khách không khỏi ngạc nhiên và hài lòng./.

Wednesday, August 17, 2011

Hành trình khám phá làng nghề tiểu thủ công nghiệp xứ dừa

Việc phát triển làng nghề hiện nay không chỉ thể hiện ở lợi nhuận kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương, mà còn bảo tồn được những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc được truyền từ đời này sang đời khác. Là nơi tập trung sản xuất các sản phẩm có bản sắc riêng. Đây cũng là cơ hội để quảng bá hình ảnh đất nước, quê hương trên mọi miền tổ quốc và ra cả thế giới. Đặc biệt, phát triển làng nghề cũng là một trong những nguồn tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng.

Đất Bến Tre hình thành trên ba dãy đất cù lao lớn (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), được thiên nhiên ưu đãi về cảnh quan sông nước hữu tình, về cây xanh trái ngọt trong cả bốn mùa, về không khí trong lành, êm ả, về những món đặc sản của sông, của biển, của miệt vườn… Đặc biệt, vùng đất này rất phù hợp với phát triển cây dừa, vì thế mà xứ sở này có rừng dừa xanh bạt ngàn bát ngát mênh mông. Với đặc điểm trên, làng nghề ở đây cũng phát triển đa dạng và phong phú như: Sản xuất chỉ xơ dừa, hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa và các làng nghề tiểu thủ công nghiệp khác. Hoạt động làng nghề ở đây tuy không nhiều như những địa phương khác, song nó phù hợp với sự khéo léo của người dân sở tại. Đến đây du khách sẽ được khám phá các làng nghề như:

Làng nghề tiểu thủ công nghiệp Phước Long – Giồng Trôm

Từ thành phố Bến Tre du khách qua cầu Bến Tre 2, rẽ phải theo tỉnh lộ 887 đi khoảng 12 km là đến làng nghề tiểu thủ công nghiệp Phước Long ở xã Phước Long, huyện Giồng Trôm. Ra đời trong những năm gần đây. Do biết vận dụng sáng tạo và sử dụng hợp lý giá trị mà cây dừa đem lại, nên làng nghề đã cho ra đời hàng loạt các sản phẩm phong phú như: sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, đan giỏ cọng dừa, sản xuất chỉ xơ dừa, … Du khách đến nơi đây sẽ được tận mắt chứng kiến các công đoạn làm ra một sản phẩm “giỏ cọng dừa” mà người thợ chỉ cần học đan 3 ngày và thực hiện 8 công đoạn như: ra nan, cột khung, đan, bính, quấn quay, nứt, hoàn thành phần đáy giỏ và cuối cùng là vô cây trữ vào kho chứa. Nghề đan giỏ cọng dừa ở Bến Tre đã xuất hiện trên 20 năm, ban đầu chỉ làm để phục vụ trong công việc hằng ngày nhưng dần dần đã phát triển thành làng nghề với quy mô lớn có giá trị xuất khẩu cao.


Làng nghề đan giỏ cọng dừa Hưng Phong – Giồng Trôm

 Hưng Phong (còn gọi là Cốn Ốc),  nằm cách biệt với đất liền, trên một cồn tự  nổi. Hiện nay, phương tiện khi qua làng nghề này du khách có thể đi bằng đường thủy lẫn đường bộ. Nếu đi đường thủy thì từ bến sông Bến Tre du khách sẽ xuôi theo dòng Hàm Luông mất khoảng hơn 45 phút; đường bộ thì từ thành phố Bến Tre du khách đi qua cầu Bến Tre 2 rẽ phải theo đường tỉnh 887, tới ngã 3 Phước Long đường ra Bến Phà Hưng Phong, rẽ phải đi thẳng khoảng 6km qua phà sẽ đến xã Hưng Phong.

Nghề đan giỏ cọng dừa ở đây được hình thành dù chỉ mới hơn 16 năm, nhưng có bước phát triển khá mạnh phần lớn là sản xuất theo hộ gia đình. Nhờ mẫu mã đa dạng nên ngày càng được thị trường ưa chuộng, đặc biệt vào dịp cuối năm do nhu cầu làm giỏ quà tặng, nên sản phẩm được tiêu thụ rất nhiều. Các công đoạn làm giỏ cũng như tại làng nghề Phước Long.

Làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh và Khánh Thạnh Tân


Từ thành phố Bến Tre du khách đi qua cầu Hàm Luông theo QL 60 đến thị trấn Mỏ Cày Nam, đi khoảng 3 km du khách rẽ phải sẽ đến làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh,  Mỏ Cày Nam. Làng nghề chỉ xơ dừa Khánh Thạnh Tân, Mỏ Cày Bắc cũng cách đó khoảng 10 km.

Đây là làng nghề mới phát triển sau này, nằm rải rác trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là những vùng có trồng nhiều dừa. Nhưng chủ yếu vẫn là ở xã An Thạnh - Mỏ Cày Nam  và xã Khánh Thạnh Tân - Mỏ Cày Bắc. Cấu tạo tự nhiên địa giới hành chính hai địa phương này nằm bên dòng sông Thơm, là điều kiện vô cùng thuận lợi để vận chuyển sản phẩm bằng đường thủy. Người dân Bến Tre vốn từ lâu đã biết vận dụng, sáng tạo từ cây dừa vốn từ lâu đã quen thuộc với người dân Bến Tre. Dừa được biến hóa ra nhiều sản phẩm rất phong phú và đa dạng. Nhưng đặc biệt, tại hai làng nghề này là sản xuất ra những sản phẩm từ xơ dừa se lại thành chỉ… Chỉ xơ dừa có nhiều loại khác nhau như chỉ nệm, chỉ xơ cứng, chỉ xơ xoắn, chỉ nệm tráng cao su, thảm dệt, chiếu thảm, thảm trãi sàn, …

Làng nghề dệt chiếu (Nhơn Thạnh – An Hiệp – Thành Thới B)

Qua cầu Rạch Miễu theo QL 60, đến vòng xoay ngã tư Tân Thành rẽ phải theo đường tỉnh 884 du khách đi khoảng hơn 9km hay từ Tp Bến Tre đi đường bộ 12km sẽ đến làng nghề dệt chiếu An Hiệp ở ấp Thuận Điền – xã An Hiệp – Châu Thành. Hay du khách có thể đến làng nghề dệt chiếu Nhơn Thạnh nằm ở vùng ven thành phố Bến Tre. Ngay ngã tư Tân Thành du khách theo đường tránh QL 60 qua  cầu Bến Tre 2, qua xã Mỹ Thạnh An là sẽ đến địa phận xã Nhơn Thạnh. Ở huyện Mỏ Cày Nam cũng có làng nghề dệt chiếu bằng cây cói rất nổi tiếng ở xã Thành Thới B, du khách cứ theo QL 60 qua Cầu Hàm Luông đi tiếp khoảng trên 25 km theo hướng đi Trà Vinh là đến nơi.

Đối với Bến Tre, nghề dệt chiếu cũng xuất hiện khá sớm, diễn ra quanh năm tại nhiều làng trong xã và thường bắt đầu từ tháng giêng đến hết tháng chạp âm lịch. Tuy vậy, hoạt động sản xuất chiếu thường nhộn nhịp vào những tháng cuối năm, bởi thời gian này, người dân trong tỉnh và những tỉnh thành lân cận thường mua những chiếc chiếu mới, có hoa văn trang trí đẹp về sử dụng trong gia đình, chùa chiền, đền miếu,… Đối với nghề dệt chiếu, phụ nữ được xem là những người thợ chính, bởi họ có sự nhẫn nại và đôi bàn tay mềm mại, tài hoa, nên họ có thể dệt những chiếc chiếu đẹp, bền chắc trong thời gian nhanh nhất. Lát là nguyên liệu chính của nghề dệt chiếu. Do điều kiện khí hậu nên lát được trồng nhiều ở các địa phương trong tỉnh như xã Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre; An Hiệp, Châu Thành, riêng xã Thành Thới B, Mỏ Cày Nam thì nguyên liệu lấy từ cây cói. Những năm trước đây, người dân làng nghề dệt chiếu sử dụng nguyên liệu tại các địa phương trong tỉnh. Ngày nay, do nhu cầu sử dụng chiếu ngày càng nhiều nên phải mua lát từ các tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp về để sản xuất. Sản phẩm của nghề dệt chiếu được tiêu thụ ở nhiều nơi trong nước, từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi, từ Bắc vào Nam. Người thợ dệt chiếu có thể bán trực tiếp cho người dân trên địa bàn hoặc bán cho những người gánh chiếu bán dạo ở các địa bàn lân cận. Ngoài ra, sản phẩm của làng nghề dệt chiếu còn được xuất khẩu ra nước ngoài.

Làng nghề đúc lu Hòa Lợi – Thạnh Phú

Từ thành phố Bến Tre du khách qua cầu Hàm Luông theo QL 60 đi khoảng trên 30 km rẽ phải sẽ đến xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú. Làng nghề này ra đời như một sự cần thiết. Chính vì sống ở vùng ven sông, tiếp giáp biển nên phần đông người dân ở Hòa Lợi đã tìm cách trữ nước mưa để sử dụng. Ở đây, hầu như nhà nào bà con cũng đúc, đổ các lu, ống chứa nước mưa để dự trữ sử dụng quanh năm. Vào mùa nắng, nguồn nước dự trữ này sẽ được dùng để nấu ăn, làm nước uống cho đến mùa mưa năm sau. Đây cũng là nguyên do để hình thành và phát triển làng nghề truyền thống “Làng lu Hòa Lợi”. Nghề này là nghề cha truyền con nối. Trải qua nhiều thế hệ, những người thợ làng lu Hoà Lợi đã sáng tạo ra những công cụ phục vụ cho nghề như: cỡ lu (hình chữ C, có hai điểm cố định, khi xoay một vòng sẽ làm cho lu cân đối), cỡ miệng, bay làm láng da lu … Nhờ vậy mà sản phẩm của làng lu Hòa Lợi “trăm chiếc như một”. Sản phẩm này cũng được tiêu thụ tại địa phương, một số tỉnh bạn và xuất khẩu sang Campuchia.

Làng nghề bó chổi Mỹ An - Thạnh Phú

Từ làng nghề đúc lu nếu đi đến làng nghề bó chổi khoảng trên 15 km. Trên QL 57, nếu như làng nghề đúc lu Hòa Lợi rẽ phải, thì làng nghề Mỹ An du khách sẽ rẽ trái đi khoảng 10 km. Nghề bó chổi nằm rải rác ở các ấp và tập trung nhiều nhất ở ấp An Hòa, đây là điểm xuất phát đầu tiên của làng nghề. Lúc đầu, chỉ có một vài hộ làm với hình thức nhỏ lẻ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn lâu dài đã được bán ra thị trường ngoài tỉnh. Nghề này có thể nói là phổ biến lâu nay ở vùng nông thôn, đặc biệt là ở xứ có nhiều dừa như Bến Tre. Người ta đã biến vận dụng từ cọng của lá dừa, lá cau, hay cọng của lá dừa nước để làm nên những sản phẩm đa dạng với nhiều chủng loại khác nhau. Ở đây, nhà nào cũng đầy chổi, chổi bó rồi, chổi đang bó…, tiếng quay dây cước vào trục nghe rè rè, tiếng kêu ken két đầy ấn tượng, rồi đến tiếng xe máy chở nguyên vật liệu ra vào, khiến làng chổi càng thêm nhộn nhịp. Người dân nơi đây cho biết: nghề này nhẹ nhàng, làm chơi mà ăn thiệt. Mỗi sản phẩm làm ra là một kỷ niệm thấm đẫm tình người, với biết bao niềm hy vọng tươi sáng của người dân hiền lành, chất phác ở một vùng quê sông nước xứ dừa luôn tin tưởng nghề này không bị mất đi và sản phẩm làm ra có nơi tiêu thụ.

Làng nghề đan đát – Phước Tuy

Nghề đan đát truyền thống Phú Lễ đã tồn tại không dưới trăm năm. Đây là làng nghề xuất hiện ở Bến Tre cũng khá lâu. Làng nghề hiện có đến cả ngàn sản phẩm với hơn mười loại, mẫu mã, kích cỡ đa dạng như bội, bung, rỗ, rế, cần xé, lờ, lọp, nơm cá, … nguyên liệu chủ yếu là tre, trúc, tầm vông. Lúc đầu nghề đan đát chỉ là nghề phục vụ trong sinh hoạt bình thường của người dân, nhưng về sau khi có nhu cầu về trang trí thì các sản phẩm làm ra rất đa dạng hơn.

Hiện nay, nghề đan đát phân bố đều trên địa bàn toàn tỉnh, nhưng tập trung nhiều nhất là ở xã Phước Tuy. Ngoài ra còn tập trung rải rác ở cá xã khác như: Phú Lễ, An Bình Tây và An Đức thuộc huyện Ba Tri. Trong nghề đan đát, ra nan là một công đoạn quan trọng góp phần tạo sự thành công cho sản phẩm. Để có những thanh nan đều, đẹp thì sau khi phân đoạn tre, trúc theo đúng quy cách, dùng dao rọc sạch mắt, sau đó chẻ đôi, tiếp tục chẻ đôi cho vừa nan theo quy cách. Chẻ hoặc tách nan bắt đầu từ gốc đến ngọn, ra nan có thể sử dụng dao mác vót để tách nan đều, không bị lõi. Hướng điều chỉnh cán dao tách nan về phía nào, phía ấy sẽ mỏng hoặc nhỏ hơn, do đó khi tách nan phải đều tay. Sau khi ra nan, sử dụng dao mác vót láng (dân gian hay gọi là lau lại cho bóng). Công đoạn kế tiếp là tạo vành cho các loại sản phẩm có sử dụng vành như: rổ, thúng, lợp… Tạo vành xong sẽ tiến hành đan. Tùy theo từng loại sản phẩm mà sử dụng cách đan khác nhau như: đan long mốt, long hai đối với các lại rổ gánh, rổ xúc, xàng, xịa; long ba dành cho đan thúng; long bốn, năm dùng cho sản phẩm bội... Ngoài ra còn có công đoạn đát, vanh,  lận vành, nứt vành.

Làng nghề Tiểu thủ công nghiệp  Phú Lễ - Ba Tri

Làng nghề Phú Lễ ở ấp Phú Thạnh, Phú Lợi, Phú Khương xã Phú Lễ - Ba Tri. Làng nghề chủ yếu về mây tre đan và sản xuất rượu nếp. Về mây tre đan thì các sản phẩm từ công đoạn chuẩn bị đến thành phẩm cũng giống như làng nghề Phước Tuy. Nhưng điểm nổi bật ở Phú Lễ và có tiếng cả trong lẫn ngoài tỉnh là sản xuất rượu Phú Lễ. Đây là một nghề của địa phương đã có từ lâu đời. Cái vị nồng nồng kết hợp với mùi thơm dễ chịu khi uống và đặc biêt nhất là cách làm rượu truyền thống. Từ qui trình chọn lọc nếp đến ủ rượu đều được chú trọng. Ngày nay, làng nghề ở xã Phú Lễ đã được gắn liền với tên rượu Phú Lễ./.