Sunday, June 10, 2012

Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” điểm hẹn về nguồn lý tưởng

Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa – lịch sử.

Giồng Trôm nằm khoảng giữa cù lao Bảo, có ranh giới chung sông Ba Lai với Bình Đại, sông Hàm Luông - Mỏ Cày Nam và giáp ranh Ba Tri, thành phố Bến Tre, Châu Thành. Địa danh Giồng Trôm được cấu tạo theo đặc điểm của đất cộng với tên thực vật - một con giồng có cây trôm mọc - giống như sự cấu tạo các địa danh Giồng Tre, Giồng Mít, Giồng Dứa. Như vậy, tên Giồng Trôm xuất hiện trên đất xứ dừa Bến Tre đã từ lâu. Đất đai Giồng Trôm được cấu tạo từ phù sa của hai con sông lớn Ba Lai và Hàm Luông, lại được tưới tắm bởi một mạng lưới sông rạch chằng chịt, do vậy mà Giồng Trôm có thế mạnh của một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng. Có thời kỳ Giồng Trôm từng mang tên là quận Tán Kế, để ghi nhớ tên người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vùng Ba Châu. Do vậy, cũng có thể coi huyện Tán Kế là tiền thân của huyện Giồng Trôm sau này.

Giồng Trôm là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử trong hai thời kỳ kháng chiến, là nơi sản sinh nhiều vị tướng lĩnh danh tiếng như: tướng Đồng Văn Cống, Nữ tướng Nguyễn Thị Định, Đại tướng Lê Văn Dũng, tướng Võ Viết Thanh, tướng Nguyễn Hữu Vị, tướng Trần Minh Tích, tướng Trần Văn Nhiên, tướng Võ Khắc Sương, tướng Nguyễn Văn Ngai, tướng Nguyễn Hoàng, tướng Hồ Quốc Việt…. Đặc biệt, vùng đất này còn là một nơi lưu giữ những tài sản tinh thần liên quan đến nhà thơ Phan Văn Trị và là nơi đã nuôi, che chở cho đồng chí cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn trong thời gian hoạt động cách mạng (11/1955 – 3/1956).

Ảnh tư liệu của Bảo tàng tỉnh Bến Tre
Hãy làm một cuộc hành trình đến xứ dừa, để du khách tham quan khám phá Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” với những điều rất thú vị. Từ thành phố Bến Tre men theo tỉnh lộ 885 đến xã Mỹ Thạnh (địa danh Mỹ Lồng) khoảng 6,5km, điểm dừng chân đầu tiên tham quan là “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/5/1997. Ông là người làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm. Năm 1848, ông giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ, ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27/6/1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp. Sau khi ông chết thi hài ông được đưa về quê an táng. Đền thờ ông trước đây là đình làng, thờ Thành hoàng bổn cảnh. Vào năm 1984, nhân dân địa phương đem bài vị của ông vào đình thờ như một vị thần đã có nhiều công lớn đối với đất nước trong việc chống ngoại xâm. Từ đó đình trở thành “Đền thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” tọa lạc tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh. Ngày giỗ ông hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch.

Ảnh tư liệu của Bảo tàng tỉnh Bến Tre
Sau khi viếng thăm “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng”, du khách đến “Di tích các chứng tích về cuộc thảm sát 286 người vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1947” tại ấp Cầu Hòa, xã Phong Nẫm, Giồng Trôm cách đền thờ Lãnh Binh Thăng 2,5km và cách thành phố Bến Tre 09km theo đường bộ. Nơi đây, vào lúc 05 giờ sáng ngày 10/01/1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất), hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào. Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 19/01/2001.

Ảnh tư liệu của Bảo tàng tỉnh Bến Tre
Cũng nằm trên đường tỉnh 885 cách thành phố Bến Tre 8,5km, du khách đến “Khu tưởng niệm Nguyễn Thị Định” tại xã Lương Hòa.  Khu lưu niệm được khởi công xây dựng vào cuối năm 2000, đưa vào phục vụ vào cuối năm 2003. Với diện tích rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam. Trong khu lưu niệm có xây dựng Đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 04 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết, có 03 cửa ra vào, xung quanh có hành lang rộng. Ngoài ra, còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục của Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc ta. Hàng năm, vào ngày 28/7 âm lịch là ngày giỗ của Nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Ảnh của Trung tâm TTXTDL
Nằm trong hệ thống Di tích văn hóa – lịch sử “Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Hòa” cũng được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/01/1993. Di tích này cách thành phố Bến Tre 16km và cũng trên nằm trên đường tỉnh 885, du khách có thể đến đây bằng đường bộ hoặc đường thủy. Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ ngôi đình tồn tại đến nay gần 200 năm. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852). Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Hiện tại còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai. Về mặt kiến trúc trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông, sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v… Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời kháng Pháp) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Nhiệm.

Ảnh tư liệu của Bảo tàng tỉnh Bến Tre
Mảnh đất Giồng Trôm còn có “Di tích Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác” ở xã Hưng Lễ. Đây là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11/1955 - 3/1956, để chỉ đạo phong trào Cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình, dự thảo Đề cương Cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông, bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ. Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Di tích cấp Quốc gia  vào ngày 07/5/1997.

Ảnh từ Internet
Đến Giồng Trôm du khách còn tham quan “Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống” tọa lạc tại xã Tân Hào. Nếu đi theo tỉnh lộ 885 cách thành phố Bến Tre 25km, theo tỉnh lộ 887 thì ngắn hơn 07km. Trung tướng Đồng Văn Cống là vị tướng bưng biền, một người con ưu tú của quê hương Đồng Khởi, ông được xem là người anh cả của lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre. Ông còn là thủ lĩnh du kích xã Tân Hào thời chống Pháp với những chiến công vang dội trên các chiến trường Bến Tre, Gò Công, Trà Vinh, Vĩnh Long. Thời chống Mỹ, ông là Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh Khu 8, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Ảnh tư liệu của Bảo tàng tỉnh Bến Tre
 “Đền thờ nhà thơ Phan Văn Trị” cũng nằm trên mảnh đất Giồng Trôm tại xã Thạnh Phú Đông. Phan Văn Trị đỗ thứ 10/17 cử nhân ở khoa thi Kỷ Dậu năm Tự Đức thứ 3 (1849), năm ấy ông vừa tròn 19 tuổi. Với tài học đó, Cử Trị có thể ra làm quan, nhưng vì chán cảnh quan trường, buồn phiền vì thời cuộc cứ rối ren, ông về sống đạm bạc bằng việc dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc Tp. Tân An, tỉnh Long An). Sau tị địa về Vĩnh Long rồi về Phong Điền - Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc, vừa làm thơ…. Đức độ và tài năng của Phan Văn Trị đã làm cho nhiều người cảm phục. Ông mất ngày 16/5 năm Canh Tuất (nhằm 22/6/1910) tại xã Nhơn Ái (nay thuộc huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ), thọ 80 tuổi. Tại xã Thạnh Phú Đông, quê hương nơi ông sinh ra năm 1998 cũng đã xây dựng Đền thờ cho ông.

Có thể nói mảnh đất Giồng Trôm không những chỉ phong phú về di tích văn hóa - lịch sử, mà còn hấp dẫn với môi trường sinh thái tự nhiên sông nước, miệt vườn, nổi bật nhất là khám phá du lịch sinh thái cộng đồng Cồn Ốc tại xã Hưng Phong, chỉ cách thành phố Bến Tre 12 km. Du khách đến nơi đây cả đường bộ lẫn đường thủy đều thuận lợi. Cồn Ốc là cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, có diện tích tự nhiên 647ha. Ban đầu, nơi đây chỉ là một cồn nhỏ, thấp, có nhiều ốc bám vào các loài cây ngập nước trên nền phù sa, vì vậy mới có tên là Cồn Ốc. Vùng này, còn có nhiều loài cây ăn trái đặc hữu như: Dừa núm, bưởi da xanh..., với chất lượng ngon hơn hẳn các vùng khác. Dừa núm trồng trên vùng đất cát phù sa của Cồn Ốc có độ ngọt đượm và nhiều nước hơn. Bưởi da xanh ở đây có múi sắc hồng, không hột, không the, vị ngọt đượm với vị chua dịu miệng, trái chín vẫn giữ trọn sắc xanh. Đặc biệt, một giống cây quý của Cồn Ốc được xem như một thứ giải khát hiếm có là “dừa dứa”, đây là giống dừa thoảng hương lá dứa từ nước uống đến cơm dừa. Cây dừa dứa rất kén đất, chỉ thích hợp với vùng nước lợ, nước ngọt sẽ cho trái có vị chua, nước mặn làm trái bị nhỏ. Hiện tại, vùng đất Cồn Ốc còn tồn tại nhiều vườn dừa có cả 20 giống dừa cư ngụ. Ngoài các loại dừa, Cồn Ốc còn có đa dạng các loại cây trái khác như: Cam, quýt, chanh, nhãn, Sapôchê…. Đến Cồn Ốc du khách còn hứng thú tham gia vào quá trình sản xuất để khám phá trải nghiệm tại “Làng nghề đan giỏ cọng dừa” và các vệ tinh hàng thủ công mỹ nghệ làm từ cây dừa.
Ảnh của TTXTDL
Làng nghề truyền thống ở Giồng Trôm cũng khá nổi tiểng như: "Bánh tráng Mỹ Lồng” tại xã Mỹ Thạnh, “Bánh Phồng Sơn Đốc" tại xã Hưng Nhượng; Làng nghề TTCN  tại xã Phước Long (sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chỉ sơ dừa và đan giỏ cọng dừa…). Hay chợ Chanh ở xã Lương Quới, nằm cặp tỉnh lộ 885, cách Tp Bến Tre 12 km, đây là chợ đầu mối mua bán chanh độc nhất vô nhị ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Ảnh của Trung tâm TTXTDL
Ảnh của Trung tâm TTXTDL và ảnh từ Internet
Những chuyến về nguồn trên đất cù lao xứ dừa, nhất là du khách khám phá trải nghiệm về văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái sông nước – miệt vườn trên mảnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng”, hy vọng du khách sẽ thật sự hài lòng, thú vị với chuyến đi có ý nghĩa, bổ ích và thư giãn.

Monday, June 4, 2012

Trải nghiệm văn hóa - lịch sử vùng đất Ba Tri

Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.

Đến xứ dừa Bến Tre, men theo tỉnh lộ 885 bằng đường bộ qua huyện Giồng Trôm, rồi đến huyện Ba Tri để khám phá, trải nghiệm bề dày văn hóa – lịch sử của vùng đất này. Ba Tri không có nhiều danh lam thắng cảnh, nhưng là địa phương có nhiều di tích của các danh nhân nổi riếng, di tích lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng, môi trường sinh thái rừng và hàng chục kilômét bờ biển, trong đó có gần 20 km bãi biển.

Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Ba Tri chỉ 36 km, du khách đến Ba Tri gắn với các ngày lễ, hội, nghỉ hè, về nguồn, ngày tết là tuyệt nhất. Trên đường đến Ba Tri và ngược lại du khách có thể dừng chân tham quan làng nghề truyền thống nổi tiếng của đất cù lao xứ dừa đó là: “Bánh tráng Mỹ Lồng” tại xã Mỹ Thạnh và “Bánh phồng Sơn Đốc” ở xã Hưng Nhượng (huyện Giồng Trôm).
Ảnh tư liệu của Bảo Tàng tỉnh Bến Tre
Đến Ba Tri viếng thăm "Di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu" tại xã An Đức, cách trung tâm thị trấn Ba Tri 02 km, đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia vào ngày 27/4/1990. Di tích được xây dựng với tổng diện tích 13.000 m2 và hàng năm vào ngày 01/7 dương lịch cũng là ngày lễ Kỷ niệm ngày sinh nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Đây cũng là ngày được chọn làm “Ngày hội truyền thống văn hóa của tỉnh Bến Tre 01/7” hàng năm, nhằm tôn vinh những giá trị tư tưởng, nhân cách đạo đức của một nhà giáo, một người thầy thuốc suốt đời vì nhân dân, đã đem tài năng và trí tuệ của mình phục vụ cho dân, cho nước. Đến Ba Tri vào ngày hội du khách sẽ hòa mình và tận hưởng với các hoạt động đặc sắc như: Liên hoan đờn ca tài tử; liên hoan hóa trang Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga; nói thơ Lục Vân Tiên; biểu diễn trống hội; biểu diễn võ thuật truyền thống; liên hoan ẩm thực, mâm cơm ngày giỗ; các trò chơi dân gian: đẩy gậy, kéo co truyền thống, nhảy bao bố, đập niêu, kéo tay,... được tổ chức hàng năm từ ngày 30/6 - 02/7 tại Di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu.

Riêng năm 2012, là năm kỷ niệm 190 năm ngày sinh nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (01/7/1822 - 01/7/2012), cũng là “Ngày hội truyền thống văn hóa của tỉnh 01/7” lần thứ 20. Ngoài những hoạt động truyền thống văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí hàng năm, năm nay còn có trưng bày mô hình sa bàn Nguyễn Đình Chiểu dạy học và một số điển tích khác; hội chợ đưa hàng Việt về nông thôn và nhiều hoạt động hội quần chúng khác.
Ảnh tư liệu của Bảo Tàng tỉnh Bến Tre
Ngoài khám phá trải nghiệm những sự kiện nhân dịp lễ, hội ở Ba Tri, du khách còn tham quan tìm hiểu "Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Phú Lễ" tại xã Phú Lễ, cách thị trấn Ba Tri khoảng 04 km. Căn cứ vào bia còn lưu lại tại đình thì niên đại xây đình vào năm 1826 - Minh Mạng thứ đời thứ 7, trên cơ sở ngôi đình bằng gỗ lá, được sắc phong vào năm 1851 (Tự Đức thứ 5). Thềm và móng được cấu trúc bằng đá xanh, bên trên xây gạch. Đình gồm tất cả 10 gian: 6 gian chính dính liền với mái và 4 gian phụ bố trí theo lối chữ “Đinh”. Đình chính gồm võ ca, viên đường, thính đường, chánh đường và hậu đường. Cột đình bằng gỗ lim, đường kính 40cm, mái lợp ngói vảy cá. Cơ bản về kiến trúc vẫn còn nguyên, đặc biệt những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ sơn son, thếp vàng còn lưu giữ được đến hôm nay, đã nói lên đình Phú Lễ là đình có quy mô lớn và đẹp nhất của các làng quê ven biển Bến Tre. Nét đẹp của đình một phần còn do cảnh quan thiên nhiên bên ngoài. Khuôn viên của đình khá rộng, trải ra trên khu đất giồng khô ráo, với hàng trăm cây cổ thụ toả bóng. Hàng năm, hội cúng đình (còn gọi là Lễ kỳ yên), Lễ tế thu, Lễ cầu bông tổ chức vào rằm tháng 3 âl. Đến Phú Lễ du khách còn khám phá làng nghề TTCN Phú Lễ (gồm đan đát, nấu rượu), trong đó có nghề nấu rượu đế đã tồn tại rất lâu đời. Rượu đế Phú Lễ được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định, không gây độc hại và hợp khẩu vị của người tiêu dùng. Ở Đồng bằng sông Cửu Long giới “ẩm giả” sành điệu xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” cùng với rượu Gò Đen (Long An), Xuân Thạnh (Trà Vinh).
Ảnh tư liệu của Bảo Tàng tỉnh Bến Tre
Từ thị trấn Ba Tri đi tiếp bằng đường bộ khoảng 18 km, du khách đến xã Bảo Thạnh tham quan "Di tích Mộ Võ Trường Toản". Người đời xưng tụng Võ Trường Toản là "Vạn thế sư biểu” và cũng chưa ai xác định rõ ông sinh trưởng ở đâu, có người nói ông là người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Võ Trường Toản là người học rộng tài cao, thông đạt kim cổ, ông không đi thi để làm quan, từ chối tham chính và mọi điều ban phát. Thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, ông ở ẩn nơi quê nhà, mở trường dạy học. Ông đã đào tạo nhiều học trò nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định (lúc bấy giờ được gọi là Gia Định tam gia thi), Ngô Tùng Châu, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Bá Phẩm…. Ông mất ngày 27/7/1792, sau khi ông mất chúa Nguyễn Ánh cảm thương ban tặng cho ông hiệu "Gia Định xử sĩ sùng đức Võ tiên sinh" (tức bậc xử sĩ họ Võ người Gia Định sùng về đức độ). Khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc Pháp, một số trí thức ở Gia Định không muốn người thầy dạy học kính yêu của mình gởi xương cốt ở nơi bị giặc chiếm, nên đã tổ chức di dời hài cốt của ông về làng Bảo Thạnh, thuộc tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Khu mộ của ông, bà và con gái được xây dựng theo dạng vôi phục, nằm trong khuôn viên thoáng rộng, có cây che bóng mát, có nhà thờ mái cong hai tầng để thờ ông và làm nơi tưởng niệm cho khách thập phương. Di tích này đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích ngày 24/01/1998.

Bảo Thạnh còn là quê hương của cụ Phan Thanh Giản vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam kỳ. Nói về cụ Phan Thanh Giản mọi người ai cũng biết ông vốn thông minh, hiếu học, năm 1825 lúc đó ông 30 tuổi đã thi đậu cử nhân trong cuộc thi Hương tại trường thi Gia Định. Năm 1826, ông đỗ đệ tam giáp (đồng tiến sĩ) cuộc thi Hội ở kinh đô Huế và bắt đầu cuộc đời làm quan, là một đại thần của triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Ông mất ngày 04/8/1867, mộ và đền thờ của cụ Phan Thanh Giản được xây dựng trên đất quê nhà Bảo Thạnh.
Ảnh tư liệu của Bảo Tàng tỉnh Bến Tre
Tiếp tục khám phá vùng đất Ba Tri, du khách đến tham quan “Di tích địa điểm Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba Cây Da Đôi” tại xã Tân Xuân, cách thị trấn Ba Tri khoảng 16 km. Nơi đây vào cuối tháng 4/1930, chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung, gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của Chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội trước đó. Chi bộ xã Tân Xuân, sau khi thành lập, đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 01/5 tại Cây Da Đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành, thu hút trên 200 người tham dự. Tại đây, sau ngày giải phóng (30/4/1975), Sở Văn hóa - Thông tin đã tổ chức dựng bia lưu niệm về sự kiện lịch sử này. Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin nhận Di tích cấp Quốc gia vào 07/5/1997.
Ảnh Nguyễn Dừa
Điều mà du khách đến Ba Tri cũng sẽ rất thú vị, ấn tượng, khi được khám phá sinh thái tự nhiên “Tràm chim Vàm Hồ” ở xã Tân Mỹ, cách thị trấn Ba Tri 18 km. Nếu từ thành phố Bến Tre theo đường bộ khoảng 54 km và đi bằng đường sông hướng ra biển mất khoảng 03 giờ. Ở Vàm Hồ, ngoài vũ điệu ngoạn mục của hàng ngàn cánh cò, cánh vạc và âm điệu đặc trưng của các loài chim hoang dã khác, kết hợp với cây lá xào xạc như tiếng con chim cuốc gọi đàn giữa đêm hè tĩnh mịch, tiếng bìm bịp kêu như một điệp khúc gọi con nước lớn, tiếng chim vịt kêu chiều chiều và nhiều loài chim nhỏ sống trong các lùm cây gần vực nước như: cuốc ngực trắng, trích, cúm núm, chằng nghịch, bìm bịp, chằng chài, chẽo chẹt, bông lau, chèo bẻo đuôi cò, chim vịt … và những hệ sinh thái thực vật tự nhiên rất lạ mắt. Hiện tại nơi đây chỉ mới được đầu tư cho du lịch, nên môi trường hoàn toàn còn hoang sơ. Nếu đến Tràm chim Vàm Hồ bằng đường sông, sẽ thú vị hơn và có thể ngắm được chim về đậu trắng cả bìa rừng phía sông.
                             
Ngoài những điểm đến khá tiêu biểu, nhiều người biết đến Ba Tri còn có những điểm hẹn khác để du khách lựa chọn khám phá trải nghiệm như: Khu lưu niệm đốc binh Phan Ngọc Tòng xã An Hiệp; miếu thờ và mộ cụ Tán Kế (Lê Quang Quan) ở xã Mỹ Thạnh. Hay làng nghề bánh phồng Phú Ngãi, làng nghề muối Bảo Thạnh, làng nghề cá khô An Thủy, biển phù sa Cồn Hố .... Về ẩm thực du khách sẽ thỏa sức thưởng thức các món hải sản biển và nhất là du khách sẽ khó quên khi thưởng thức món cá lóc đồng nướng mở hành ăn với bánh tráng cuốn rau sống, chấm nước nắm chua ngọt. Hay các món ăn dân dã, đồng quê đậm chất Nam Bộ mà khi nhâm nhi với danh tửu Phú Lễ thì hết sẩy vô cùng.
Miếu thờ và mộ cụ Tán Kế (Lê Quang Quan)
Làng nghề đan đát ở xã Phú Lễ - huyện Ba Tri

Sunday, May 20, 2012

Điểm đến vào dịp tết Đoan Ngọ vùng cây trái, hoa kiểng Chợ Lách

“Ngày hội cây - trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp” vào dịp tết Đoan ngọ (mùng 5/5 âl) được phát triển từ ngày hội dân gian, trở thành ngày hội truyền thống và tổ chức hàng năm tại vùng cây trái, hoa kiểng Chợ Lách. Năm 2012, “Ngày hội cây - trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp lần thứ XII” được tổ chức từ ngày 22/6/2012 – 27/6/2012 (mùng 4/5 âl – 7/5 âl). Ngày hội tổ chức nhằm quảng bá giới thiệu sản phẩm trái ngon, an toàn và các sản phẩm nông nghiệp ở địa phương, giới thiệu các sản phẩm mới, chất lượng phục vụ sản xuất cho nông dân. Đặc biệt, là tạo cơ hội giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trồng cây ăn trái, cây giống, hoa kiểng của nhà nông trong tỉnh.

Điểm nhấn chính nằm trong chuỗi hoạt động của “Ngày hội cây - trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp lần thứ XII” dự kiến diễn ra như: Lễ dâng hương thần nông; hội thi trái ngon, an toàn; đấu xão sản phẩm to, lạ. Hội thảo sản xuất trái cây theo thị trường, hội thảo liên kết sản xuất làng nghề, hội thảo một số giống hoa kiểng mới, sản xuất bền vững; hội thảo Nấm Trichoderma trên cây ăn trái. Trong ngày hội còn có thi ẩm thực, đá chim, các trò chơi dân gian, biểu diễn uốn sửa kiểng và quay chậu, các gian hàng trưng bày, mua bán trái cây, cây giống, hoa kiểng, dụng cụ, vật tư nông nghiệp, sinh vật lạ, gà nòi, gian hàng ẩm thực…. Ngoài ra, còn có hội chợ thương mại và biểu diễn nghệ thuật hàng đêm; các hoạt động vui chơi, giải trí và du lịch. Đặc biệt, còn có chương trình Lễ đón nhận Chứng nhận VietGAP cho bưởi da xanh và măng cụt của Chợ Lách.

Du thuyền Bảo Duyên
Du khách đến Chợ Lách trong dịp này sẽ thỏa sức thưởng thức trái cây ngon mang từ nhà vườn ra mỗi ngày. Hay đến các điểm du lịch sinh thái, vườn cây ăn trái có thể tự tay hái trái với sự hướng dẫn của chủ vườn. Cái mới năm nay là Công ty TNHH MTV Du lịch Bảo Duyên của Bến Tre phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Chợ Lách tổ chức 02 tour du lịch để du khách chọn khám phá, trải nghiệm vùng sông nước, miệt vườn với những vườn cây trái sai oằn trĩu quả và làng nghề cây giống, hoa kiểng hấp dẫn như:

Bãi cát bồi cồn Phú Bình
- Tuyến du lịch sông nước – miệt vườn: Thị trấn Chợ Lách – Vĩnh Bình, tuyến này đón du khách tại tại bờ kè trước UBND huyện, du thuyền Bảo Duyên đưa du khách qua kênh Sụp, kênh Bốn Sồ, ra sông Cổ Chiên, đến cồn Phú Đa tham quan vườn xoài tứ quí Thanh Sơn, vườn chuyên canh sầu riêng, bưởi da xanh…. Sau đó, du thuyền đưa du khách ra bãi cát bồi cồn Phú Bình tắm nước ngọt (tại bãi tắm có đội cứu hộ và lực lượng an ninh trật tự đảm bảo an toàn cho du khách); đón du khách đến điểm ăn, uống tại điểm Ba Ngói hoặc điểm Út Bình (cách điểm Ba Ngói 400m) thưởng thức đặc sản ốc gạo, bánh xèo nhân hến, nhân ốc gỏi; gỏi cuốn hến, gỏi cuốn ốc gạo; gà ta thả vườn, gà nòi hầm sả và các món ăn dân dã của vùng sông nước…. Du thuyền đưa du khách trở lại thị trấn Chợ Lách. Kết thúc tour.

Nhà bia Trương Vĩnh Ký
- Tuyến du lịch đường bộ: Đón du khách trước UBND huyện, xe đưa du khách đến xã Vĩnh Thành (Cái Mơn) tham quan Nhà thờ cổ Cái Mơn, nhà bia Trương Vĩnh Ký hay khu mộ của Thánh Minh là người của xã Vĩnh Thành  được phong Thánh. Rồi tiếp tục khám phá tuyến du lịch sinh thái Vĩnh Nam. Tuyến này, nếu đi từ huyện Chợ Lách lên đến cầu Cái Mơn nhỏ rẽ sang hướng trái; từ Bến Tre sang thì rẽ sang hướng phải, vào tuyến Vĩnh Nam, tuyến này có chiều dài khoảng 2,5 km. Du khách sẽ tham quan làng nghề sản xuất cây giống, hoa kiểng nằm ven hai bên đường làng của ấp Vĩnh Nam. Đến vườn chuyên canh sầu riêng Bảy Thảo tham quan vườn cây cảnh, hoa kiểng, mô hình nuôi gà nòi, tham gia câu cá và ăn và khám phá các loại cây ăn trái khác. Du khách có thể ăn, uống tại đây hoặc đến điểm ẩm thực Hạnh Phúc gần cầu Hòa Khánh (Cái Mơn). Tại tuyến Vĩnh Nam du khách có thể tham quan đan giỏ tre làm hoa kiểng, cây cảnh và quây chậu kiểng tại các hộ gia đình. Xe 30 chổ vào tuyến này đến nơi và cũng dễ dàng quây đầu xe trở lại. Xe 50 chổ đậu ngoài QL 57 và tại Cái Mơn có dịch vụ xe đạp, xe gắn máy, xe lôi máy để du khách chọn làm phương tiện ngắm cảnh, tham quan suốt tuyến du lịch sinh thái Vĩnh Nam.
Vườn sầu riêng
Cũng điểm tham quan này, tại Vĩnh Thành (Cái Mơn) sẽ tổ chức xuồng máy hoặc xuồng chèo đón du khách từ cầu Bà Trùm đầu ấp Vĩnh Nam, ngắm cảnh trên sông Vĩnh Chính, ven hai bên sông là những hàng bần xanh ngắt, trên bờ là những vườn cây ăn trái và những cơ sở sản xuất cây giống, hoa kiểng rất hấp dẫn. Du khách có thể dừng chân nghỉ ngơi, ăn, uống tại các điểm như tuyến đường bộ.
Quay chậu
Đan giỏ tre trồng hoa kiểng
Ghép cây giống
Làng nghề hoa kiểng, cây giống Chợ Lách
Đến Chợ Lách trong dịp tết Đoan ngọ (mùng 5/5âl) điều thú vị nhất là trước và sau tết Đoan ngọ (mùng 5/5âl), vùng đất này sản sinh sản vật thiên nhiên độc đáo đó là “nấm mối”. Từ nấm mối sẽ chế biến ra các món ăn để du khách thưởng thức như: mấm mối xào nước cốt dừa lá cách hay xào muối ớt; nấm mối quấn lá cách nướng; lẩu nấm mối; mấm mối nấu canh măng, canh rau vườn nấu với mấm mối…

Chợ Lách không những đón du khách đến đây vào “Ngày hội cây - trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp” dịp tết Đoan ngọ (mùng 5/5âl), mà du khách có thể đến với vùng đất cây lành trái ngọt này suốt cả bốn mùa và tùy thích chọn lựa tham quan nhiều điểm du lịch sinh thái, sông nước, miệt vườn nổi tiếng ở cồn Phú Đa, cồn Phú Bình (xã Vĩnh Bình); các điểm du lịch sinh thái, vườn cây ăn trái, làng nghề cây giống, hoa kiểng và các cơ sở chuyên sản xuất cây kiểng hình dạng thú, cây cảnh… ở xã Hưng Khánh Trung B, Vĩnh Thành (Cái Mơn) và các điểm du lịch sinh thái xã Phú Phụng./.

Tuesday, April 17, 2012

Say sưa thưởng thức thanh âm cung bậc từ bộ nhạc cụ bằng chất liệu dừa

Vinh dự được về quê hương thưởng thức trọn vẹn chương trình nghệ thuật sân khấu tại Lễ khai mạc “Festival Dừa Bến Tre lần III năm 2012” với chủ đề “Bến Tre trên đường hội nhập và phát triển” tổ chức tại sân khấu nổi Hồ Trúc Giang vào đêm 05/4/2012. Trong hệ thống các tiết mục nghệ thuật được kết nối diễn ra trong chương trình, tôi thật bất ngờ và vô cùng xúc động, thú vị khi được thưởng thức trọn vẹn tiết mục hòa tấu được phối âm, phối khí và phát triển dựa trên âm hưởng các bài bản đờn ca tài tử của vùng đất Nam bộ  mang tên "Bình minh trên đảo dừa". Tiết mục biểu diễn được dàn dựng có nhạc trưởng chỉ huy và 20 nghệ nhân thứ thiệt của xứ dừa Bến Tre tham gia hòa tấu.

Hiếu kỳ muốn biết rõ vì sao có bộ nhạc cụ dân tộc làm bằng dừa này ra đời? Ngay tối đó tôi gặp người trong Ban Tổ chức và được biết: “Họa sĩ, nhạc sĩ Lê Dân” là người Bến Tre đã đưa ra ý tưởng làm bộ nhạc cụ bằng dừa. Thì ra là họa sĩ Lê Dân, không phải ai xa lạ, là người cùng quê Giồng Trôm với tôi. Tôi biết sở trường của Lê Dân là họa sĩ nhiều hơn là nhạc sĩ.

Tuy không phải là người trực tiếp làm nghệ thuật, nhưng tôi rất mê nghệ thuật, ít nhiều cũng am hiểu về một số loại nhạc cụ dân tộc. Trên 25 loại nhạc cụ dân tộc mà tôi tận mắt chứng kiến do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang quản lý, tôi ngạc nhiên quá, các loại nhạc cụ đều được làm hoàn toàn gỗ dừa, gáo dừa của xứ Bến Tre. Ngắm nhìn, chiêm ngưỡng nó thật kỹ, đường nét rất sắc, càng nhìn càng bị thu hút, ấn tượng vô cùng, mê nhất là cấu tạo tự nhiên của chất sừng với những vân gỗ dừa có màu tựa như màu cánh gián rất đẹp. Những sản phẩm làm bằng gáo dừa già thì cũng có vài vân trắng ngà xen lẫn trong toàn khối màu hơi mun, bóng mịn, làm nên những chiếc đàn gáo rất tuyệt, nhất là chiếc đàn gáo hồ lô. Tôi đếm thử thì thấy bộ nhạc khí kéo cung vĩ gồm: Đàn cò có 03 cây, đàn gáo có 04 cây. Hay bộ nhạc khí gãy dây gồm có 04 loại như: Đàn kìm (nguyệt cầm) có 02 cây, đàn bầu (độc huyền) 03 cây, đàn sến 02 cây, đàn tranh 02 cây. Bộ nhạc khí gõ gồm: Trống 03 cái (02 trống chiến, 01 trống tiều), mõ có 02 cái. Ngoài ra, còn có thêm kèn, đàn guitar điện phím lõm (còn gọi là khuyết nguyệt cầm), đàn bass và bộ gõ bằng gáo dừa màu mun. Thuận tay tôi thử âm thanh thật của một vài loại nhạc cụ để nghe nó đã như thế nào. Vì trên sân khấu biểu diễn nó được sự hỗ trợ của âm thanh chuyên nghiệp, nghe thì rất đã, còn âm thanh thật thì phải thử mới biết nó ra sao. Quả là thanh âm không lạc, kêu rất vang với tôi như vậy là đạt yêu cầu rồi.

Hôm sau, tôi tìm gặp họa sĩ Lê Dân, anh lớn hơn tôi 02 tuổi, hơn 05 năm tôi chưa gặp lại anh, gặp lại lần này râu – tóc anh gần như đã bạc trắng hết. Nhưng trong anh vẫn luôn còn giữ nét tếu tếu, hài hài như ngày nào. Anh say sưa kể tôi mới biết bộ nhạc cụ dân tộc được anh có ý tưởng làm đã lâu, cuối năm 2009 anh mới tiết lộ với các đồng nghiệp của anh và được anh em đồng nghiệp ủng hộ, khuyến khích nên thực hiện để kịp phục vụ trong Lễ hội Dừa năm 2010. Nhưng mãi đến tháng 8/2011 được sự hỗ trợ của Ban Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đặc biệt là đ/c Trần Ngọc Tam – Giám đốc Sở đã tạo mọi điều kiện để tôi thực hiện được ý tưởng của mình và sẽ được trình làng vào dịp diễn ra "Festival Dừa Bến Tre lần III năm 2012". Họa sĩ Lê Dân còn tâm sự: "Có lẽ hương vị dừa quê hương đã thắm vào máu thịt của tôi, nên bức tranh vẽ nào của tôi cũng đều có dừa, hay trong sáng tác âm nhạc ít, nhiều gì tôi cũng nhớ đến dừa". Vì vậy mà ý tưởng làm bộ nhạc cụ dân tộc bằng dừa cứ ấp ủ và luôn đeo mãi thôi thúc trong tôi. Anh nói, để làm ra bộ nhạc cụ này kỳ công lắm, tất cả đều được làm cây dừa của xứ mình và đã có trên trăm năm tuổi đấy.

Nghe Lê Dân tâm sự, tôi chợt nhớ ra anh hay chọn thơ có đề cập về dừa để phổ nhạc như bài hát “Gửi Mẹ Lương Hòa” lời thơ Chim Trắng trong thơ có câu “…, bông dừa rơi lưa thưa, ong ruồi xây tổ mật…” hay bài hát “Mùa xuân thơm ngát hoa anh hùng” anh sáng tác cùng với Hoài Hồ cũng có câu  “Ơi! Đêm nay trên đường hành quân nghe rừng dừa xanh vang lên khúc hát… hay Ơi! Đêm nay ta cùng dừa xanh ra trận ….”.  Hoặc bài hát “Tiếng hát trên dòng Hàm Luông” do anh sáng tác lời nhạc cũng có câu “…Đây hàng dừa xanh soi bóng quê hương dạt dào bao tình mến thương…” và bài hát “Người Mẹ bên bến Hàm Luông” cũng có câu hát “…Bến sông còn in dáng Mẹ như cây dừa đứng hiên ngang”.

Được biết người cùng họa sĩ Lê Dân thực hiện bộ nhạc cụ dân tộc bằng dừa còn có ông Võ Văn Bá (còn gọi Ba Sơn). Ông Bá cũng là người con xứ dừa Bến Tre, là người có khiếu, là nhạc công chuyên sử dụng nhạc cụ truyền thống và có vài chục năm kinh nghiệm để chế tác ra các loại nhạc cụ dân tộc. Tôi thì chưa gặp ông Bá lần nào, nhưng tìm hiểu thì được biết sản phẩm này ra đời có sự đóng góp rất lớn của ông Bá. Có thể gọi cho vui, hai cụ ông với hai mái tóc đã bạc trắng gần hết cùng hứng thú, say mê như nhau, rồi bắt tay thiết kế ra bộ nhạc cụ dân tộc bằng chất liệu dừa, để ra mắt trong "Festival Dừa Bến Tre lần III" thì quả là táo bạo. Bởi vì, đây là lần đầu tiên hai ông bạn già chế tác các loại nhạc cụ dân tộc bằng chất liệu dừa, mà cũng chưa hình dung được thanh âm của nó ra sao. Trong quá trình thực hiện có một số nhạc cụ chưa đạt tiêu chuẩn thanh âm, cung, bậc, hai ông phải nhờ vào bộ khuếch âm điện tử hỗ trợ. Hoặc có một số nhạc cụ cũng chưa đạt độ tinh xảo, tính thẩm mỹ còn thấp, hai bạn ông già phải làm đi làm lại nhiều lần mới đạt được. Mỗi loại nhạc cụ hai ông chế tác ra có kích cỡ khác nhau, để tạo nên những cung bậc thanh âm khác nhau, mà khi các nhạc cụ đó được gãy lên nó sẽ hòa quyện thanh âm,  nghe rất sướng tai. Với tôi, hai ông bạn già của xứ dừa Bến Tre cừ thật, tài thật, đáng khâm phục.

Tôi được thưởng thức trọn vẹn những tiếng đàn dừa ngân vang hòa âm điệu trong đêm khai mạc "Festival Dừa lần III" tại quê hương mình thật là vinh hạnh, sướng thật, nó sẽ đọng mãi trong tôi. Và tôi nghĩ ít, nhiều nó cũng đã góp phần làm nên thông điệp nâng cao chuỗi giá trị thực của cây dừa Bến Tre.

Như vây, bộ nhạc cụ dân tộc truyền thống bằng chất liệu dừa đã chính thức ra mắt công chúng Bến Tre và cả nước, được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Bộ nhạc cụ dân tộc chế tác bằng chất liệu dừa đầu tiên tại Việt Nam” vào ngày 10/4/2012.

Bạn ơi! Hãy đến quê hương tôi thư thả ngắm nhìn những hàng dừa với dáng đứng nghiêng nghiêng, nhiều rặng dừa ven sông đong đưa theo nhịp sóng, những con đường làng rợp bóng dừa xanh…. Hay tìm hiểu thêm những chiến công hiển hách của xứ dừa năm xưa, cũng có sự góp mặt của cây dừa. Trong xây dựng phát triển quê hương dừa đã góp phần rất lớn trong giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đóng góp vào ngân sách của tỉnh nhà…. Cây dừa, nó có nhiều lợi ích, nhiều công dụng lắm các bạn ơi! Dừa quê tôi là thế đó, nó đã làm nên “Dáng đứng Bến Tre” bất hủ. Hãy cùng sẻ chia sự thăng trầm chịu đắng cay của nó trên đất Bến Tre. Với tôi, dừa quê hương tôi nó vẫn luôn ươm mầm cho cuộc sống, đem lại sự ngọt mát ân tình cho mọi người, sự dâng trái sai, trái ngọt, góp phần cho đời thêm vui.

Đức Hà

Wednesday, April 4, 2012

Âm vang hòa điệu từ bộ nhạc cụ dân tộc bằng chất liệu dừa

Thoáng nhìn qua bộ nhạc cụ dân tộc truyền thống (trên 20 cây) chuẩn bị tham gia biểu diễn trong  "Festival Dừa Bến Tre lần III năm 2012", khó nhận ra nó làm bằng loại gỗ gì và nghĩ nó làm bằng loại gỗ thông dụng đang bán trên thị trường. Nhưng nhìn kỹ, thật ngạc nhiên khi tận mắt chứng kiến bộ nhạc cụ dân tộc truyền thống đó được làm toàn bằng cây dừa của xứ Bến Tre. Với trên 20 loại nhạc cụ gồm: Đàn cò, đàn gáo, đàn kìm (còn gọi là nguyệt cầm), đàn sến, đàn tranh, đàn bầu (còn gọi là độc huyền), bộ trống, mõ, kèn, đàn guitar..., rất sắc nét, độc đáo, ấn tượng. Ngắm nhìn bộ nhạc cụ dân tộc chất liệu dừa này có những vân gỗ màu đo đỏ rất bắt mắt, bóng đẹp vô cùng. Hay sắc nét bóng mịn, hơi mun, có tính sừng hóa của gáo dừa già đã làm nên chiếc đàn gáo rất tuyệt.

Vì sao có bộ nhạc cụ dân tộc làm bằng dừa? Ý tưởng đó của tác giả nào và ai là người đã sáng chế ra bộ nhạc cụ này? Thông tin từ Ban Tổ chức cho biết: Họa sĩ, nhạc sĩ Lê Dân là người con của xứ dừa đã đưa ra ý tưởng làm bộ nhạc cụ bằng dừa này vào cuối năm 2009. Nhưng mãi đến năm tháng 8/2011 mới chính thức thực hiện được và bộ nhạc cụ dân tộc dừa sẽ trình làng vào dịp diễn ra "Festival Dừa Bến Tre lần III năm 2012".

Tiếp xúc với họa sĩ, nhạc sĩ Lê Dân mới biết bộ nhạc cụ dân tộc truyền thống này được làm từ cây dừa trên vùng đất ba dãy cù lao xứ dừa, đã có trên trăm năm tuổi. Các loại nhạc cụ cũng được thiết kế theo kích cỡ lớn, nhỏ, trung và độ dày, mỏng khác nhau, để tạo nên những thanh âm theo cung bậc cao, trung, trầm. Họa sĩ Lê Dân còn nói: "Có lẽ hương vị dừa quê hương đã thắm vào máu thịt của tôi, nên bức tranh vẽ nào của tôi cũng đều có dừa, hay trong sáng tác âm nhạc ít, nhiều gì tôi cũng nhớ đến dừa". Vì vậy mà ý tưởng làm bộ nhạc cụ dân tộc bằng dừa cứ đeo mãi và luôn thôi thúc trong tôi. Họa sĩ Lê Dân bộc bạch: Đây là lần đầu tiên làm các loại nhạc cụ bằng chất liệu dừa, nên cũng đã gặp không ít khó khăn. Nhưng được sự ủng hộ cổ vũ, khuyến khích của đồng nghiệp, với lòng say mê tôi quyết tâm thực hiện bằng được nó, để đạt được ý tưởng và sở nguyện của mình.

Cùng đồng hành thực hiện bộ nhạc cụ dân tộc bằng dừa với họa sĩ Lê Dân còn có ông Võ Văn Bá, cũng là người con Bến Tre, đang sinh sống tại xã Nhơn Thạnh. Ông Bá là người rất có năng khiếu chế tác ra các loại đàn, Ông cũng từng là nhạc công chuyên sử dụng nhạc cụ dân tộc truyền thống. Như vậy, hai ông già đã gần tuổi thất thập cổ lai hy đã tâm đầu ý hợp, cùng đam mê, có hứng thú như nhau, rồi cùng hì hục bắt tay chế tác bộ nhạc cụ dân tộc bằng chất liệu dừa, để ra mắt trong "Festival Dừa Bến Tre lần III" thật có ý nghĩa vô cùng. Trong quá trình thực hiện có một số loại nhạc cụ chưa đạt tiêu chuẩn thanh âm, cung, bậc phải nhờ vào bộ khuếch âm điện tử hỗ trợ, hay có một số nhạc cụ cũng chưa đạt độ tinh xảo, tính thẩm mỹ còn thấp, hai ông già phải tìm cách khắc phục dần.

Cũng thông tin từ Ban Tổ chức trong kịch bản chương trình nghệ thuật khai mạc “Festival Dừa lần III " vào đêm 05/4/2012 tại sân khấu nổi Hồ Trúc Giang, bộ nhạc cụ dân tộc truyền thống từ chất liệu dừa sẽ được 20 nghệ nhân thứ thiệt của xứ dừa tham gia biểu diễn tiết mục hòa tấu "Bình minh trên đảo dừa". Gặp gỡ những nghệ nhân tham gia biểu diễn các loại nhạc cụ dân tộc này, cảm nhận họ rất phấn khởi và họ nói: Từ xưa đến giờ chỉ nghe nói cây dừa dùng làm nhà, dùng đóng đồ đạc hay làm ra những mặt hàng thủ công mỹ nghệ để trang trí, xuất khẩu..., chứ chưa nghe, chưa thấy bộ nhạc cụ dân tộc nào cả mấy chục cây đều làm bằng dừa cả. Chỉ có chiếc đàn gáo ở Miền Nam là làm từ gáo dừa hay các nhạc sĩ Bến Tre trước đây cũng đã từng chế tác ra bộ nhạc gõ làm bằng gáo dừa cũng rất độc đáo.

Vậy mà những người con của xứ dừa Bến Tre đã táo bạo đưa ra ý tưởng, rồi chế tác ra bộ nhạc cụ dân tộc truyền thống làm bằng dừa, thật là đáng khâm phục. Trong lúc tác giả đưa ra ý tưởng cũng như người cùng tham gia chế tác ra nó chưa hình dung hết được những thanh âm, cung, bậc của nó ra sao. Những nghệ nhân còn cho rằng: Họ đã sử dụng nhiều loại nhạc cụ dân tộc được làm với loại gỗ quý hiếm thông dụng. Bây giờ lại được gãy đàn từ cây dừa của xứ mình thì thật là vinh hạnh, không gì sướng bằng, cảm xúc của chúng tôi khó tả quá.

Cây dừa trên đất Bến Tre là vậy đó, nó biến tấu đầy màu sắc, khiến ai cũng có thể nghĩ đến khả năng vô tận còn tiềm ẩn của nó, mà con người chưa khám phá được hết. Trong kháng chiến những hàng dừa, rặng dừa Bến Tre đã từng chở che cho quân ta đánh giặc. Trong xây dựng phát triển quê hương dừa Bến Tre đã giúp người dân giải quyết việc làm, nâng thu nhập, xóa đói giảm nghèo.... Dừa Bến Tre đã có nhiều công dụng, nhiều lợi ích cho cuộc sống, gắn bó mật thiết với người Bến Tre trong mọi hoàn cảnh là thế đó. Phải công nhận dừa Bến Tre nó rất bền bỉ, rất dẻo dai, rất sắt son - chung thủy với người Bến Tre tự biết bao đời nay. Nếu kể đến công dụng, lợi ích của dừa thì không sao tả xiết. Chỉ biết nó đã hóa thân vào tất cả các lĩnh vực. Vì vậy mà hình tượng của nó được ca ngợi trong thơ ca, nhạc, họa, rồi hôm nay dừa lại hóa thân vào từng loại nhạc cụ truyền thống của dân tộc. Như vậy, một lần nữa nó lại góp phần làm nên hào khí của Bến Tre, làm phong phú thêm sắc màu sản phẩm văn hóa không chỉ của riêng của xứ dừa Bến Tre, mà còn góp phần to lớn vào kho tàng sản phẩm văn hóa của nước ta.

Trong đêm khai mạc "Festival Dừa lần III" tại sân khấu nổi Hồ Trúc Giang, mọi người sẽ được thưởng thức “Tiếng đàn dừa” của xứ mình và hy vọng với những thanh âm, hòa điệu của bộ nhạc cụ dân tộc truyền thống làm từ chất liệu dừa sẽ ngân vang mãi và làm nên thông điệp nâng cao chuỗi giá trị thực của cây dừa, để mọi người trên đất nước ta và cả bạn bè trên thế giới cùng sẻ chia, cùng hiểu thật nhiều về lợi ích, về hàng trăm, hàng ngàn công dụng của cây dừa. Để rồi cùng khẳng định cây dừa là cây của cuộc sống, là cây của kinh tế, cây của môi trường, cây của những sản phẩm văn hóa độc đáo và vô giá, là cây của tương lai..., thực sự có lợi ích thiết thực đối với cuộc sống con người.

Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, đây là bộ nhạc cụ dân tộc truyền thống đầu tiên của nước ta được làm hoàn toàn bằng chất liệu dừa và là dừa trên đất Bến Tre. Ban Tổ chức "Festival Dừa lần III" cũng có ý định xin xác lập kỷ lục bộ nhạc cụ dân tộc bằng chất liệu dừa vào guiness Việt Nam.

Dừa ơi! Dừa là vậy đó, mà quên sao được dừa ơi! Xin được mượn vài câu hát luôn còn đọng mãi trong tôi để được kết thúc những dòng tâm sự này: "Thương lắm dừa ơi!.... Đã tự bao đời dừa vẫn đứng hiên ngang, bám sâu sâu vào lòng đất, như lòng dân bám chặt lấy quê hương. Qua nắng mưa mà cây vẫn tươi xanh, lọc đắng cay lại cho trái ngọt lành.... Hay mỗi lúc đi xa dừa ơi ta nhớ lắm nghen....".

Đến với "Festival Dừa lần III năm 2012" hãy khám phá Tour du lịch hấp dẫn

Ngoài “Chương trình tham quan vườn dừa và các sản phẩm dừa” miễn phí nằm trong chuỗi hoạt động “Festival Dừa Bến Tre lần III năm 2012” từ 09 giờ  ngày 05/4/2012 - 10/4/2012, các hãng lữ hành tại Bến Tre cũng hòa không khí các sự kiện diễn ra, tổ chức các tour du lịch để quý khách khám phá, thưởng ngoạn trong những ngày lưu lại trên vùng đất xứ dừa. Đến Bến Tre vào những ngày này, quý khách sẽ không khó lựa chọn cho mình những chuyến đi hợp lý nhất, lại vừa phù hợp với từng đối tượng, nhu cầu của mỗi người. Chương trình tour đã được các Công ty Lữ hành trong tỉnh thiết kế dành riêng cho du khách. Mỗi tour là mỗi chủ đề mà chương trình  tour đưa vào trong dịp này đều là những trải nghiệm khác nhau về sự đa dạng và phong phú của vùng đất được mệnh danh “xứ sở dừa Việt Nam”. Từ đó, nhằm giới thiệu đến du khách về sông nước - miệt vườn Bến Tre hiền hòa, thân tình, mến khách.

Du khách có thể tham khảo một số chương trình tour của Công ty TNHH Du lịch Hàm Luông tại Trung tâm điều hành Du lịch Hàm Luông, số 200C, Hùng Vương, phường 5, thành phố Bến Tre; Điện thoại: 0753.818595 – 0913 769 170 như sau:

* Tour “Du thuyền trên sông Bến Tre – Festival dừa”:
- Buổi sáng:  Hướng dẫn đón quý khách tại Khách sạn Hàm Luông hoặc tại bến tàu trước khách sạn Hàm Luông. Sau đó quý khách sẽ được đi thuyền ngược sông Bến Tre, xem dân địa phương chài lưới, giăng câu. Dừng chân tham quan lò gạch, tìm hiểu cách nung gạch bằng phương pháp truyền thống thủ công. Đi thuyền máy len lỏi trong kênh rạch đến nhà dân, thưởng thức dừa dứa, đặc sản bưởi da xanh. Tản bộ tham quan cơ sở sơ chế trái dừa, lò kẹo dừa. Quý khách còn được trải nghiệm thú vị với xe lôi máy hoặc xe đạp theo con đường làng ngắm xem những sinh hoạt thường nhật của người dân xứ dừa.Tham quan hộ dân làm nghề dệt chiếu. Dừng chân nghỉ ngơi, thư giãn tại nhà dân bên bờ sông, dùng cơm trưa với thực đơn miệt vườn hấp dẫn.

- Buổi trưa: Tiếp tục cuộc hành trình bằng xuồng chèo trên rạch với rừng dừa nước bạt ngàn. Du thuyền đón tại vàm sông và đưa quý khách về tham quan nghệ thuật sắp đặt “Con đường dừa” trên đường Hùng Vương, tham dự các sự kiện “Festival Dừa lần III”. Đặc biệt, thưởng thức văn hóa ẩm thực xứ dừa tại Khu “Liên hoan ẩm thực xứ dừa” (Quầy ẩm thực khách sạn Hàm Luông). Quý khách tự do vui chơi tại Festival dừa. Kết thúc tour.
Một góc hình ảnh nghệ thuật sắp đặt “Con đường dừa”

* Tour “Du thuyền trên sông Mekong – Festival dừa”:
- Buổi sáng: Hướng dẫn đón khách tại bến tàu trên sông Mekong dưới chân cầu Rạch Miễu. Du thuyền đưa quý khách dạo quanh cụm cù lao Long – Lân – Qui – Phụng. Từ du thuyền, quý khách ngắm công trình cầu Rạch Miễu nối liền hai tỉnh Bến Tre – Tiền Giang; được giới thiệu những địa danh Rạch Gầm – Xoài Mút lịch sử. Khám phá những làng cá bè trên sông và với rừng dừa nước xanh ngát ven sông. Xuồng chèo đưa quý khách đến nhà dân, thưởng thức trái cây, mật ong, nghe đờn ca tài từ Nam Bộ. Đi xe ngựa trên đường làng, tham quan lò kẹo dừa – một trong đặc sản có tiếng của Bến Tre. Ăn trưa tại Cồn Phụng.

- Buổi trưa: Xe sẽ đưa quý khách vào thành phố Bến Tre, trên đường tham quan vườn dừa xiêm dứa ở ấp Phước Hậu, xã Tam Phước, huyện Châu Thành. Đến thành phố Bến Tre, tham quan nghệ thuật sắp đặt “Con đường dừa” của Festival Dừa trên đường Hùng Vương. Thưởng thức ẩm thực xứ dừa tại quầy ẩm thực khách sạn Hàm Luông. Kết thúc tour.

* Tour “Vườn cây trái – Festival Dừa Bến Tre”:
- Buổi sáng: Hướng dẫn quý khách tham quan vườn dừa chuyên canh tại xã Bình Phú, thành phố Bến Tre. Qua cầu Hàm Luông, rồi đến vương quốc cây trái Cái Mơn. Đi bộ vào làng, tham quan vườn kiểng, cây cảnh, vườn chuyên canh cây ăn trái cao sản măng cụt, sầu riêng cơm vàng hạt lép. Thưởng thức trái cây tại vườn (theo mùa).

- Buổi trưa: Quý khách về thành phố Bến Tre, ăn trưa tại Khu “Liên hoan ẩm thực xứ dừa (Quầy ẩm thực khách sạn Hàm Luông). Tham quan nghệ thuật sắp đặt “Con đường dừa” trên đường Hùng Vương và vui chơi tại “Festival Dừa Bến Tre”.

Ngoài ra, du khách còn có thể tham khảo chương trình tour của Công ty Cổ phần du lịch Bến Tre tại Trung tâm điều hành du lịch số 65 Đồng Khởi, Phường 2, Tp.Bến Tre; Điện thoại: 0753.829618- 683.683; Fax : 0753.814426 như sau:

* Mekong tour:
- Du thuyền trên sông Tiền – cụm cù lao Long – Lân -  Quy – Phụng.  Tham quan chợ cá nổi Mỹ Tho. Thuyền vào rạch Xếp tham quan mô hình nhà truyền thống Nam bộ bằng dừa (nhà chữ đinh và nhà bát dần). Xem bộ sưu tập theo chủ đề cây dừa. Thưởng thức trái cây tại vườn, đàn ca tài tử Nam bộ, uống mật ong pha trà. Đi xe ngựa trên đường làng Quới Sơn. Đi đò chèo trong rạch dừa nước, thăm lò kẹo dừa và  thưởng thức các loại kẹo dừa. Tản bộ trên Cồn Phụng tham quan Khu du lịch Đạo Dừa. Kết thúc chương trình.
* Tour “Cồn Ốc ven sông làng quê yên ả”:
- Du thuyền ra sông Hàm Luông. Tham quan lò kẹo dừa thưởng thức kẹo dừa nóng miễn phí. Đến Cồn Ốc tham quan bộ sưu tập về các chủng loại dừa tại vườn chú Tám Thưởng. Thưởng thức nước dừa tươi tại vườn. Lên thuyền trở về cồn Sơn Phú thưởng thức trái cây theo mùa. Ăn trưa tại Nhà hàng Nổi Bến Tre (thưởng thức các món ăn đặc sản về dừa)
* Tour “Mỹ Thạnh An - Làng nhỏ ven sông”:
- Du thuyền trên sông Bến Tre. Tham quan cơ sở chế biến dừa. Thưởng thức mứt dừa miễn phí. Tản bộ trong vườn dừa Dứa thưởng thức nước dừa tại vườn. Tham quan cơ sở sản xuất kẹo dừa, thưởng thức kẹo dừa nóng miễn phí. Tham quan làng dệt chiếu, thưởng thức bánh tráng dừa nướng uống nước trà. Thưởng thức trái cây theo mùa. Xuồng chèo trong rạch Vong.

Xin chào đón quý khách đến xứ dừa Bến Tre thưởng thức, khám phá những sự kiện đặc sắc, hấp dẫn trong “Festival Dừa Bến Tre” và hãy chọn các tour du lịch sông nước – miệt vườn để thư giản và để trải nghiệm; quý khách sẽ ấn tượng và hài lòng với những gì mình khám phá được trong những ngày lưu lại trên vùng đất này.

Tuổi thơ "Bé bánh dừa" xứ Giồng Luông

Bây giờ tôi đã lớn, lập nghiệp ở đất khách quê người, nhưng lúc nào tôi cũng nhớ về quê nhà, nhớ nhất là những rặng dừa, vườn dừa xanh bóng mát và những con đường làng  dừa ở quê tôi xứ Bến Tre. Dừa đã gắn bó mật thiết với người dân xứ tôi từ trong kháng chiến đến xây dựng quê hương. Từ dừa người ta đã sáng tạo, chế biến ra các sản phẩm trong thực phẩm, các sản phẩm dùng trong công nghiệp, trong thủ công mỹ nghệ, trong lịch sử - văn hóa, trong các lễ hội, trong văn hóa ẩm thực, du lịch sinh thái….Và từ cây dừa mà giới văn nghệ sĩ đã dùng hình tượng của nó để sáng tác trong thơ ca, nhạc, hội họa,….

Tôi có nhiều kỷ niệm về dừa quê tôi, nhớ nhiều nhất là các món ăn có chất liệu, nguyên liệu, hương liệu, hương vị của dừa. Nhưng có lẽ cái tôi nhớ nhất, ghiền nhất và nhớ thật nhiều nhất và nó luôn đọng mãi trong tôi cho đến bây giờ, đó là chiếc “bánh dừa” ở quê Nội - xứ Giồng Luông thuộc xã  Đại Điền – huyện Thạnh Phú – tỉnh Bến Tre.

Cứ mỗi lần nghe tiếng ê a đánh vần của những đứa trẻ, làm gợi nhớ đến tuổi học trò của tôi ở một làng quê của xứ Bến Tre. Cái tuổi mà chưa biết lo, chưa biết nghĩ, cái tuổi mà chạy reo vang, mùng húm mỗi khi được mẹ cho quà, nhất là món quà mình thích nhất. Với tôi, chỉ cần mỗi khi đi chợ về Mẹ cho ăn 01 cái bánh dừa là tôi mê tít lắm rồi. Không hiểu sao tôi mê cái bánh dừa của vùng quê tôi đến thế, mỗi khi nhận được cái bánh dừa là tôi nhanh tay gỡ thật nhanh vòng lá quấn bên ngoài bánh, cắn nhanh một miếng cho đã thèm. Cái vị ngọt của bánh, dẻo dẻo của nếp, thơm ngào ngạt của nhân chuối chín bên trong, với những hạt đậu đen cưng cứng, bùi bùi, với vị nước cốt dừa béo béo, thơm thơm, tất cả hòa hợp vào nhau mà khi không dùng đến nó tôi vẫn tưởng tượng ra được cái hương vị béo, ngon, thơm của nó đọng lại mãi trong tôi. Vì thích ăn bánh dừa và hình như ngày nào tôi cũng ăn ít nhất một cái, nên cả nhà ai cũng gọi tôi là “Bé bánh dừa”, gọi tôi như vậy tôi không chịu đâu. Lúc đầu tôi khóc dữ lắm, Anh tôi cứ trêu đừng ăn bánh dừa nữa thì Anh không gọi là “Bé bánh dừa”. Nhưng dễ gì tôi chịu bỏ ăn bánh dừa, nghe gọi riết rồi cũng quen và cho đến khi tôi khăn gói rời quê nhà vào môi trường của sinh viên thì tên “Bé bánh dừa” mới ít được gọi đến.

Cái hình ảnh cái “bánh dừa” quê tôi ăn tới đâu tháo những vòng lá dài buông xuống, rồi nó xoắn lại như cái lò xo, trông ngộ nghỉnh, mà đến giờ tôi vẫn chưa thấy có cái bánh nào khác làm với loại lá như vậy. Tôi nhớ rất rõ, mình cũng háo ăn, có những lúc ăn vội để vào lớp học, mới cắn một cái, sơ ý để phần còn lại tuột xuống đất, tôi cứ đứng nhìn nó rồi tiếc mãi. Hay có hôm ăn hấp tấp vội vàng, trên mép còn dính một hạt nếp, bị chúng bạn chê cười, tôi xấu hổ biết bao, những hình ảnh ấy sẽ không bao giờ quay lại trong tôi nữa, vậy mà tôi vẫn luôn nhớ và ghiền nó vô cùng.

Cũng chỉ vì tôi thích ăn bánh dừa, mà hàng ngày Má tôi phải dành vài giờ đồng hồ sang nhà Bà Tư hàng xóm phụ làm bánh, rồi được Bà Tư cho vài cái bánh để tôi ăn. Năm học cấp II,  đi học về làm bài xong là tôi vọt sang nhà Bà Tư coi làm bánh. Xứ tôi có nhiều nhà làm bánh dừa, người ta bắt đầu làm từ chiều đến tối, rồi thức nấu bánh đến khuya hay gần sáng mới xong. Khi đem bánh dừa ra chợ bán, bánh vẫn còn hơi nóng. Riêng nhà Bà Tư là làm bánh vào ban ngày, đến khoảng 08 - 09 giờ đêm là hoàn thành việc nấu bánh, cũng nhờ vậy mà tôi mới có thể sang nhà Bà Tư phụ làm bánh được. Ban đầu tôi phụ sắp những cọng lá dừa nước non ôm vào nhà, rồi phụ trỉa lá, dần dần tôi phụ quấn nòng, cột bánh…., rồi phụ đổ nếp vào nòng, đến buộc dây, cột chùm bánh lại thành một chục (12 cái)…. Những ngày đầu mới phụ, khi bánh chín Bà Tư mang sang cho nhà tôi nửa chục (06 cái). Tôi phụ khoảng 02 – 03 tháng gì đó, có hôm Bà Tư cho bánh lại cho tôi cả tiền, tôi từ chối không nhận tiền và nói Bà cho bánh dừa con ăn là được rồi. Nhưng Bà bảo tôi lấy đi để mua tập vở học, con mà không lấy Bà giận không cho qua nhà làm nữa đâu. Sợ Bà Tư giận thiệt nên tôi đành nhận số tiền ấy. Tuy số tiền không lớn, nhưng trong lòng tôi mừng vô cùng, nhưng mừng nhất là được nhận chiếc bánh dừa mà mình thích ăn nhất. Ăn riết rồi cũng ngán, nhưng ngưng ăn chừng hai hôm là tôi lại thèm nó. Sau này Bà Tư cũng cho bánh nhà tôi cũng ít dần, bù lại số tiền bà trả công cho tôi cao hơn, tôi để dành mua bút, tập và những dụng cụ cần thiết cho việc học của tôi.

Phụ Bà Tư được hơn nữa năm, tôi gần như trở thành thợ quấn nòng làm bánh, cột bánh chuyên nghiệp, lúc đó bánh dừa nhà Bà Tư bán đắc lắm, làm số lượng ngày càng nhiều, bán sang nhiều chợ ở quê, ra đến chợ huyện, lên đến chợ tỉnh…. Đến năm học cấp III, bài vở học nhiều hơn, nhưng hàng ngày tôi vẫn sang nhà Bà Tư phụ làm bánh. Năm học cuối cấp, mỗi tuần tôi chỉ sang nhà Bà Tư phụ đôi ba lần, hôm nào không sang được trong lòng tôi thấy buồn buồn sao ấy.

Thời gian tôi phụ làm bánh ở nhà Bà Tư, thấy tôi siêng năng, ý tứ trong từng việc làm, ham học hỏi, vì vậy mà ngày tôi khăn gói lên đất sài thành làm sĩ tử, tôi nhớ rất rõ, khuya tôi đi Bà Tư mang sang nhà dúi vào tay tôi một ít tiền và cho tôi hai chùm bánh dừa để dành ăn trong những ngày tôi tạm xa nhà. Ngoài người thân động viên tôi cố gắng học hành thi cử, thì Bà Tư là người đã động viên tôi về tinh thần và hỗ trợ tôi một ít vật chất, để tôi thành đạt trong việc học hành. Thấy tôi chăm học, lại siêng năng, Bà Tư thường hay động viên tôi: "Con ráng học đi, ở xứ mình còn nhiều khó khăn lắm, cũng vì do học ít và học không đến nơi đến chốn, không làm được gì đâu, con ráng học để kiếm cho mình cái nghề khác, đừng như Bà đây làm nghề này thức khuya dậy sớm cực lắm con ạ!". Lúc đó, tôi cười rồi nói: "Bà Tư ơi! Con thấy nhà Bà làm bánh ngon quá, bán được nhiều tiền, nếu cực thế này con cũng chịu". Nói là nói vậy, chứ gia đình tôi ai cũng động viên tôi phải học, rồi kiếm cho mình cái nghề để nuôi bản thân mình và còn có thể giúp cho gia đình, cũng vì học ít mà trong tính toán làm ăn gia đình tôi đã gặp không ít khó khăn. Vả lại, tôi rất mê học, ước mơ của tôi được khoác chiếc áo blu trắng hay được làm nghề gõ đầu trẻ. Vì vậy, dù thích ăn bánh dừa, thích nghề của Bà Tư đang làm, hàng ngày sang phụ nhà Bà, nhưng tôi chưa bao giờ lơi là trong việc học.

Rồi đến lúc phải rời xa quê nhà thật sự, tôi có kết quả đậu vào một Trường Đại học, tuy không phải là vào ngành nghề mình từng mơ ước, nhưng đậu vào Đại học thời đó ở xứ tôi không dễ gì kiếm được. Với tôi, gia đình tôi như vậy thì quá vinh dự rồi.

Bắt đầu hòa nhập vào môi trường mới ở đất sài thành, môi trường của những cô, cậu sinh viên tứ xứ hội tụ về. Ngày tôi chuẩn bị chính thức rời quê lên đường đi học, tôi "Bé bánh dừa" sang nhà từ giã Bà Tư, Bà vui mừng như người thân của tôi vậy. Ngày tôi đi Bà Tư sang nhà đưa 05 chùm bánh dừa để tôi xách đi, Bà nói con ráng mang bánh theo ăn và cho các bạn cùng ăn, rồi con giới thiệu bánh dừa của Bà Tư luôn. Tôi biết vừa xách hành lý, những đồ dùng cần thiết ban đầu cho “Bé bánh dừa”nhà quê như tôi lên thành phố với cả 05 chùm bánh dừa nữa thì không dễ dàng. Vì thương tấm lòng tốt của Bà Tư, vì thích ăn bánh dừa, được người thân hỗ trợ đưa đi, nên những gì chuẩn bị tôi đều cố mang đi tất cả.

Nhờ những chiếc bánh dừa của Bà Tư mà lúc đầu tôi đỡ nhớ nhà. Tôi cứ trông đến ngày được nghỉ về quê gặp người thân, sang nhà Bà Tư phụ làm bánh và ăn bánh dừa cho đã thèm luôn. Dần dần, do việc học hành, rồi quen bạn mới ở khắp nơi, tôi ít nhớ nhà hơn. Mỗi lần về quê tôi đều sang nhà thăm Bà Tư, phụ Bà làm bánh và mua vài chùm bánh dừa đem đi cho các bạn cùng phòng thưởng thức. Lần nào mua bánh của Bà Tư cũng được Bà khuyến mãi riêng tôi nửa chục. Bánh dừa nhà Bà Tư làm ngon lắm, để gần cả 03 – 04 ngày vẫn chưa hề hấn gì và gồm có các loại bánh: Bánh nhân chuối; nhân đậu xanh; bánh chuối trộn với đậu đỏ - đậu đen và dừa bâm nhuyễn; bánh dừa chay; bánh dừa trộn đậu đỏ - đậu đen .
Nhóm bạn cùng phòng với tôi là dân đủ vùng, miền, nó cũng khoái ăn bánh dừa như tôi. Cứ thế mỗi lần về quê là tôi rinh từ 03 – 05 chùm mang lên. Hôm nào nhớ nhà, nhớ đến bánh dừa là tôi kể, tôi khoe với bọn nó là tôi làm bánh dừa cừ lắm. Tôi đã kể cho bọn bạn nghe các nguyên liệu, cũng như cách làm ra thành phẩm chiếc bánh dừa ở quê tôi, mà tôi đã học được của Bà Tư. Tôi nói muốn làm bánh ngon, hấp dẫn, nếp làm bánh phải là nếp rặt, không pha lộn gạo, bánh mới dẻo. Nếp phải được vo sạch, nước không còn đục, vớt nếp ra thúng bằng tre để ráo, sau đó rưới nước từ từ nhiều lần lên nếp để hột nếp mềm. Rồi vắt dừa lấy nước cốt nhất, hòa vào ít đường cát và tí muối, rưới trộn đều vào với nếp. Trước khi làm bánh phải chuẩn bị quấn nòng, dây buộc…. Lá dùng quấn nòng làm bánh dừa là đọt non của cây lá dừa nước, quê tôi gọi cà bắp. Sau đó dùng dao rọc cọng lá và gân lá, lấy phần phiến lá quấn nòng gói bánh. Phần cọng lá dừa nước được chặt nhọn làm gim. Phần gân lá dùng làm dây buộc từng cái bánh. Gói bánh dừa phải là lá dừa nước non kết hợp với cái béo của dừa thì bánh mới thơm, ngon hấp dẫn. Hay quê tôi còn dùng lá dừa non để gói bánh dừa, lá dừa gói rất đẹp, nhưng hơi hiếm, vì để lấy lá non phải đốn cây dừa xuống mới có được.
Dừa nước Bến Tre (lá non dùng gói bánh dừa)

Về phần thực hiện gói bánh dừa tôi kể các bạn nghe quy trình gồm: Trước hết phải quấn nòng, dùng phiến lá dừa nước non quấn thành hình khối trụ, rồi cho nếp vào nòng. Tùy theo loại bánh mà ta cho nhân vào; bánh dừa có thể gói nhân đậu xanh hoặc nhân chuối, hay có thể kết hợp với đậu đen, đậu đỏ nguyên hạt trộn vào nếp. Nếu là nhân đậu xanh thì nấu chín, tánh tơi nhuyễn ra, rồi vò viên. Nhân chuối thì tùy vào khẩu vị của mỗi người mà chọn chuối vừa chín tới hay chín mềm. Đối với bánh gói có nhân, khi gói bánh cho một phần nếp vào nòng bánh trước, rồi mới cho nhân vào nằm ở giữa, rồi tiếp tục cho phần nếp còn lại vào vừa đầy nòng; đối với bánh không nhân thì đơn giản, chỉ cần cho nếp vào vừa đầy nòng là được. Bánh có nhân hay không nhân sau khi cho nếp vào nòng thì khép kín nòng lại cố định bằng gim, sau đó cột bánh bằng dây gân lá dọc theo nòng bánh. Như vậy là hoàn thành phần gói bánh. Gói bánh xong cột bánh lại từng chùm một, mỗi chùm một chục (12 cái), rồi đem bánh bỏ tất cả bánh vào nồi hấp lớn hay ở quê tôi còn gọi là cái trả, nước hấp bánh phải bỏ tí xíu phèn chua thì màu lá của bánh mới tươi và đẹp. Bánh bỏ vào hấp phải từ 05 - 06 giờ đồng hồ, bánh mới chín.

Bánh dừa gói đều và đẹp đòi hỏi người quấn nòng phải khéo tay, có thâm niên. Tôi nói với bạn để thưởng thức được chiếc bánh dừa ngon là cả một kỳ công; gói bánh dừa quay quần bên nhau, rồi pha trò cười vui vẻ với nhau sẽ có được nhiều kỉ niệm đẹp. Rất thú vị và không gì ngon bằng được ăn bánh do chính tay mình làm.
Nguyên liệu làm bánh với nhân chuối và nhân đậu xanh

Trên đất Sài Gòn, tôi cũng thấy nhiều nơi bán bánh giờ để thương hiệu “Bánh  dừa Giồng Luông – Bến Tre” hay “Bánh  dừa Bến Tre”, tôi cũng không biết là bánh dừa đó có thật sự chính hiệu chưa, đoạn đường bán nhiều nhất là trên Đại lộ Nguyễn Văn Linh. Mỗi lần nhìn thấy người ta bày bán bánh dừa là tôi thấy nhớ quê hương da diết, nhớ về tuổi thơ của mình. Có người hỏi tôi, bánh dừa Giồng Luông có khi nào? Và ai là người đã làm ra nó? Quả thật mà nói người dân quê tôi cũng không ai nhớ rõ nguồn gốc bánh dừa có từ đâu? Chỉ biết người dân quê tôi đã tận tâm thổi hồn vào chiếc bánh dừa từ khâu chuẩn bị đến nguyên liệu làm bánh và đến khi ra thành phẩm chiếc bánh dừa. Vì thế, mà chiếc bánh dừa Giồng Luông nó ngon và nổi tiếng, được nhiều người biết đến là vậy.

Bánh dừa Giồng Luông đã trở thành đặc sản của xứ dừa Bến Tre, nó góp phần làm phong phú thêm giá trị văn hóa và sắc màu ẩm thực Việt Nam nói chung, Bến Tre xứ dừa nói riêng. Bánh dừa không chỉ người dân Bến Tre mới gói bánh ngon, mà ai cũng có thể làm được. Nhưng để nó được ngon, được nổi tiếng thì phải thật sự là người khéo tay, ham học hỏi, tận tâm với nghề và có những bí quyết riêng. Nếu có dịp ghé thăm quê hương xứ dừa hãy đến đó thử một lần nhé! Vừa  thử tài khéo tay vừa tìm về kí ức của “Bé bánh dừa”, sẵn dịp khám phá tìm hiểu “Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ Huỳnh Phủ (Hương Liêm) và khu mộ, cũng như ghé thăm bia lưu niệm của Tiểu đoàn 307 “đánh đâu được đấy - oai hùng biết mấy” của bộ đội ta trong thời kỳ chống thực dân Pháp.!.

Hoàng Đạt